Kinh doanh đa cấp, hay còn gọi là hệ thống phân phối đa cấp, là một mô hình kinh doanh trong đó doanh thu không chỉ đến từ việc bán sản phẩm hoặc dịch vụ trực tiếp mà còn từ việc tuyển dụng người khác để tham gia vào hệ thống. Trong mô hình này, các thành viên không chỉ kiếm tiền từ việc bán sản phẩm mà còn từ doanh thu của những người mà họ đã tuyển dụng, tạo ra một mạng lưới phân phối nhiều cấp. Khi đó, nhiều người băn khoăn không biết liệu theo quy định, “Kinh doanh đa cấp có hợp pháp không?”. Bạn đọc hãy cùng với Tìm Luật tìm hiểu qua nội dung bên dưới nhé.
Kinh doanh đa cấp có hợp pháp không?
Kinh doanh đa cấp dựa trên việc bán sản phẩm hoặc dịch vụ có giá trị thực và dựa vào việc tuyển dụng người mới để kiếm tiền. Mô hình kinh doanh đa cấp thường yêu cầu vốn đầu tư ban đầu thấp hơn so với các loại hình doanh nghiệp truyền thống, giúp nhiều người dễ dàng gia nhập. Các thành viên có thể điều hành công việc kinh doanh của riêng họ, làm việc theo thời gian linh hoạt và xây dựng mạng lưới khách hàng.
Tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 40/2018/NĐ-CP có định nghĩa kinh doanh theo phương thức đa cấp là hoạt động kinh doanh sử dụng mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh, trong đó, người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và lợi ích kinh tế khác từ kết quả kinh doanh của mình và của những người khác trong mạng lưới.
Tại Điều 4 Nghị định 40/2018/NĐ-CP có quy định về đối tượng kinh doanh theo phương thức đa cấp như sau:
Đối tượng kinh doanh theo phương thức đa cấp
1. Hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp chỉ được thực hiện đối với hàng hóa. Mọi hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp với đối tượng không phải là hàng hóa đều bị cấm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Những hàng hóa sau không được kinh doanh theo phương thức đa cấp:
a) Hàng hóa là thuốc; trang thiết bị y tế; các loại thuốc thú y (bao gồm cả thuốc thú y thủy sản); thuốc bảo vệ thực vật; hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn hạn chế sử dụng và cấm sử dụng trong lĩnh vực gia dụng và y tế và các loại hóa chất nguy hiểm;
b) Sản phẩm nội dung thông tin số.
Như vậy, bản chất việc bán hàng đa cấp không phải lừa đảo hay vi phạm pháp luật, việc kinh doanh theo phương thức đa cấp sử dụng mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhánh được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Tuy nhiên, để không bị vi phạm pháp luật người bán hàng đa cấp phải tuân thủ các quy định của pháp luật không kinh doanh những hàng hóa bị cấm và không thực hiện các hành vi bị pháp luật nghiêm cấm.

Những hành vi nào của doanh nghiệp bán hàng đa cấp bị nghiêm cấm?
Kinh doanh đa cấp có thể mang lại cơ hội kinh doanh và việc làm cho nhiều người, đồng thời phát triển các kỹ năng cá nhân và doanh nhân. Tuy nhiên, nó cũng đi kèm với những rủi ro và thách thức cần được xem xét kỹ lưỡng. Các thành viên có thể gặp phải áp lực từ việc đạt chỉ tiêu doanh số và tuyển dụng, điều này có thể dẫn đến căng thẳng và cạnh tranh không lành mạnh. Việc hiểu rõ mô hình hoạt động và các quy định pháp luật liên quan là rất quan trọng để đảm bảo rằng bạn tham gia vào một hệ thống hợp pháp và bền vững.
Theo khoản 1 Điều 5 Nghị định 40/2018/NĐ-CP những hành vi của doanh nghiệp bán hàng đa cấp bị nghiêm cấm bao gồm:
– Yêu cầu người khác phải đặt cọc hoặc nộp một khoản tiền nhất định để được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp;
– Yêu cầu người khác phải mua một số lượng hàng hóa nhất định để được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp;
– Cho người tham gia bán hàng đa cấp nhận tiền hoặc lợi ích kinh tế khác từ việc giới thiệu người khác tham gia vào hoạt động bán hàng đa cấp mà không phải từ việc mua, bán hàng hóa của người được giới thiệu đó;
– Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng hay lợi ích kinh tế khác mà người tham gia bán hàng đa cấp có quyền hưởng;
– Cung cấp thông tin gian dối về kế hoạch trả thưởng, về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
– Cung cấp thông tin gian dối, gây nhầm lẫn về tính năng, công dụng của hàng hóa hoặc hoạt động của doanh nghiệp thông qua báo cáo viên, đào tạo viên tại hội nghị, hội thảo, đào tạo hoặc thông qua tài liệu của doanh nghiệp;
– Duy trì nhiều hơn một hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp, vị trí kinh doanh đa cấp, mã số kinh doanh đa cấp hoặc các hình thức khác tương đương đối với cùng một người tham gia bán hàng đa cấp;
– Thực hiện khuyến mại sử dụng mạng lưới gồm nhiều cấp, nhiều nhánh mà trong đó người tham gia chương trình khuyến mại có nhiều hơn một vị trí, mã số hoặc các hình thức tương đương khác;
– Tổ chức các hoạt động trung gian thương mại theo quy định của pháp luật thương mại nhằm phục vụ cho việc duy trì, mở rộng và phát triển mạng lưới bán hàng đa cấp;

– Tiếp nhận hoặc chấp nhận đơn hoặc bất kỳ hình thức văn bản nào khác của người tham gia bán hàng đa cấp, trong đó, người tham gia bán hàng đa cấp tuyên bố từ bỏ một phần hoặc toàn bộ các quyền của mình theo quy định của Nghị định này hoặc cho phép doanh nghiệp không phải thực hiện nghĩa vụ đối với người tham gia bán hàng đa cấp theo quy định của Nghị định này;
– Kinh doanh theo phương thức đa cấp đối với đối tượng không được phép;
– Không sử dụng hệ thống quản lý người tham gia bán hàng đa cấp đã đăng ký với cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp để quản lý người tham gia bán hàng đa cấp;
– Mua bán hoặc chuyển giao mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp cho doanh nghiệp khác, trừ trường hợp mua lại, hợp nhất hoặc sáp nhập doanh nghiệp.
Điều kiện của người tham gia bán hàng đa cấp là gì?
Điều kiện của người tham gia bán hàng đa cấp thường được quy định bởi công ty kinh doanh đa cấp cũng như theo quy định pháp luật tại từng quốc gia. Người tham gia phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến kinh doanh đa cấp tại quốc gia họ hoạt động. Người tham gia cần phải chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình và đảm bảo việc bán hàng được thực hiện một cách chuyên nghiệp và minh bạch.
Tại Điều 28 Nghị định 40/2018/NĐ-CP có quy định về điều kiện đối với người tham gia bán hàng đa cấp như sau:
Điều kiện đối với người tham gia bán hàng đa cấp
1. Người tham gia bán hàng đa cấp là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật.
2. Những trường hợp sau không được tham gia bán hàng đa cấp:
a) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc có tiền án về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả, sản xuất, buôn bán hàng cấm, quảng cáo gian dối, lừa dối khách hàng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản, tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp;
b) Người nước ngoài không có giấy phép lao động tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp trừ trường hợp được miễn theo quy định của pháp luật;
c) Người tham gia bán hàng đa cấp đã từng bị xử phạt do vi phạm các quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 5 Nghị định này mà chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính;
d) Cá nhân quy định tại điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định này;
đ) Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
Như vậy, người tham gia bán hàng đa cấp phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc trường hợp không được tham gia bán hàng đa cấp.
Thông tin liên hệ
Trên đây là bài viết giải đáp thắc mắc về vấn đề ”Kinh doanh đa cấp có hợp pháp không?”. Hy vọng bài viết có ích cho độc giả. Mọi thắc mắc, vướng mắc xin vui lòng gửi đến timluat để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời.
Câu hỏi thường gặp
Người bán hàng đa cấp có được đào tạo không?
Khi tham gia ký kết hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp doanh nghiệp bán hàng đa cấp có trách nhiệm đào tạo người tham gia bán hàng đa cấp theo chương trình đào tạo cơ bản và không được thu phí dưới bất kỳ hình thức nào.
Xử phạt hành chính hành vi bán hàng đa cấp trái phép như thế nào?
Căn cứ theo Điều 73 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, các khung xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh đa cấp như sau:
– Đối với cá nhân tham gia hoạt động đa cấp có hành vi vi phạm thì theo khoản 1 – khoản 5 Điều 73 Nghị định này: Có thể bị phạt tiền từ 03 – 50 triệu đồng.
– Đối với doanh nghiệp vi phạm trong hoạt động đa cấp thì theo khoản 4 – khoản 9 Điều 73 Nghị định này: Có thể bị phạt tiền từ 20 – 100 triệu đồng.
Đối với một số hành vi vi phạm được thực hiện trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên có thể bị phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt quy định.
Ngoài ra, doanh nghiệp hoặc cá nhân có hành vi vi phạm còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả như buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do vi phạm hành chính hoặc buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn đối với hành vi vi phạm.