Di chúc không được bán nhà có hợp pháp không?

113
Di chúc không được bán nhà

Di chúc là một văn bản pháp lý mà trong đó một người (gọi là người lập di chúc) chỉ định cách thức phân chia tài sản và quyền lợi của mình sau khi qua đời. Di chúc có thể bao gồm thông tin về người thừa kế, tài sản, cũng như các yêu cầu hoặc nguyện vọng của người lập di chúc. Việc lập di chúc giúp đảm bảo rằng tài sản sẽ được phân chia theo ý nguyện của người lập, tránh các tranh chấp không đáng có giữa các thành viên trong gia đình. Hiện nay, nhiều người băn khoăn không biết liệu căn cứ theo quy định pháp luật hiện hành, “Di chúc không được bán nhà có hợp pháp không?“. Tìm Luật sẽ giúp quý bạn đọc làm rõ vấn đề này ngay sau đây.

Người lập di chúc có những quyền gì?

Di chúc không chỉ là một tài liệu pháp lý mà còn là biểu hiện của tình cảm và trách nhiệm đối với người thân. Di chúc là cách để người lập thể hiện nguyện vọng, tâm tư và mong muốn của mình đối với tài sản và người thân. Việc lập di chúc mang lại cảm giác an tâm cho người lập, vì họ biết rằng tài sản của mình sẽ được phân chia theo cách mà họ mong muốn. Một di chúc rõ ràng giúp tránh các mâu thuẫn và tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình, tạo sự minh bạch trong việc phân chia tài sản.

Tại Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền của người lập di chúc như sau:

Quyền của người lập di chúc

Người lập di chúc có quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Như vậy, người lập di chúc có quyền thể hiện ý chí của bản thân trong việc phân định tài sản thuộc về ai và nghĩa vụ đối với tài sản đó sau khi người lập di chúc chết.

Di chúc không được bán nhà có hợp pháp không?

Di chúc không được bán nhà nhằm đảm bảo rằng ngôi nhà sẽ không bị bán đi trước khi các quyền lợi thừa kế được thực hiện, bảo vệ tài sản cho người thừa kế. Nếu người lập di chúc không muốn ngôi nhà bị bán, điều này thể hiện mong muốn của họ rằng tài sản này sẽ được giữ lại cho gia đình hoặc người thân. Cần lưu ý rằng, trong mọi trường hợp, điều quan trọng là di chúc phải được lập hợp pháp và rõ ràng để tránh hiểu lầm và tranh chấp sau này.

Vấn đề này cần xem xét nội dung của di chúc theo từng trường hợp như sau:

1. Nhà, đất được dùng vào việc thờ cúng

Trong di chúc nếu người để lại di sản thừa kế nêu rõ nhà, đất được sử dụng vào việc thờ cúng thì nhà, đất đó không được chia thừa kế, đồng thời người được chỉ định quản lý nhà đất đó không được chuyển nhượng, tặng cho,…

Nội dung này được nêu rõ tại khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

“1. Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng.

Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.”.

Bên cạnh đó, trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng (theo khoản 2 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015).

Di chúc không được bán nhà
Di chúc không được bán nhà

Nghĩa là, toàn bộ di sản người chết để lại không đủ “trả nợ” thì nhà, đất phải được sử dụng vào để trả nợ cho dù nội dung di chúc ghi rõ là để sử dụng vào việc thờ cúng.

2. Nhà, đất không sử dụng vào việc thờ cúng

Trong di chúc người để lại di sản không nêu rõ nhà, đất sử dụng vào việc thờ cúng mà chỉ có ý nguyện không được chuyển nhượng, tặng cho thì khi đó chỉ thể hiện mong muốn, nguyện vọng của người để lại di sản.

Theo quy định của Luật Đất đai 2013, sau khi người để lại di sản chết thì người thừa kế có thể thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai (đây là thủ tục bắt buộc nếu phân chia di sản xong).

* Thời hạn đăng ký biến động: Trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày phân chia xong quyền sử dụng đất là di sản thừa kế phải đăng ký biến động (theo khoản 6 Điều 95 Luật Đất đai 2013).

Nghĩa là, việc chia và đăng ký thừa kế không nhất thiết phải thực hiện ngay sau khi người để lại di sản chết nhưng khi phân chia xong thì phải đăng ký biến động theo đúng quy định.

* Thời điểm đăng ký đất đai khi thừa kế có hiệu lực:

Để việc thừa kế hoàn tất cần phải thực hiện các thủ tục khác nhau như: Khai nhận di sản (nếu có), phân chia di sản, đăng ký biến động. Đồng thời pháp luật đất đai quy định rõ việc thừa kế có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Nội dung này được quy định rõ tại khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013 như sau:

“3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.”.

Khi sang tên xong thì người thừa kế là người sử dụng đất và được Nhà nước thừa nhận trong chứng thư pháp lý là Sổ đỏ, Sổ hồng. Một khi đã là người sử dụng đất thì sẽ có đầy đủ các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai như chuyển nhượng, tặng cho, để lại thừa kế, thế chấp,…

Tóm lại, trong di chúc không có quy định để di sản là nhà, đất sử dụng vào việc thờ cúng thì người thừa kế có quyền chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp và các quyền khác theo quy định pháp luật đất đai.

Mặt khác, cho dù người để lại di sản có mong muốn nhà đất được sử dụng vào thờ cúng và nói mong muốn đó cho tất cả các thành viên trong gia đình thì cũng không phải là căn cứ để ngăn cản, tước bỏ quyền của người thừa kế khi những người này trở thành người sử dụng đất (sang tên xong) nếu như không thể hiện trong di chúc.

Trên đây là câu trả lời cho vướng mắc: Lập di chúc để lại đất nhưng không cho bán, có được không? Để có câu trả lời cho câu hỏi này cần xem xét nội dung di chúc theo từng trường hợp.

– Nếu di chúc có thể hiện nội dung không cho bán mà chỉ được sử dụng vào việc thờ cúng thì người thừa kế không có quyền bán, trừ trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ thực hiện nghĩa vụ của người đó (không đủ để trả nợ thì phải bán hoặc chuyển nhà đất đó cho chủ nợ).

– Nếu di chúc không có nội dung là “sử dụng vào việc thờ cúng” thì người thừa kế vẫn có đầy đủ quyền của người sử dụng đất, trong đó có quyền chuyển nhượng.

Di chúc không được bán nhà
Di chúc không được bán nhà

Nội dung di chúc yêu cầu không được chuyển nhượng, tặng cho di sản thừa kế lại cho người khác có đúng không?

Di chúc không chỉ mang lại lợi ích pháp lý mà còn góp phần tạo dựng sự ổn định và hòa thuận trong gia đình sau khi người lập qua đời. Di chúc phải phản ánh rõ ràng ý chí của người lập di chúc. Nếu họ muốn bảo vệ tài sản và không cho phép chuyển nhượng hoặc tặng cho di sản thừa kế, điều này cần được ghi rõ trong văn bản. Nội dung di chúc yêu cầu không được chuyển nhượng, tặng cho di sản thừa kế là hợp pháp nếu nó được lập rõ ràng và tuân thủ các quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, trên thực tế để thực hiện đúng di nguyện của ông thì rất khó vì khó có ai có thể đứng ra kiểm soát được việc sử dụng đất này sẽ như thế nào trong suốt một thời gian dài.

Theo quy định tại Điều 95 Luật Đất đai 2013 thì khi nhận thừa kế quyền sử dụng đất từ người ông thì những người được thừa kế sẽ thực hiện thủ tục đăng ký biến động để ghi nhận thành quyền sử dụng đất của họ trên Giấy chứng nhận.

Và sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013) thì họ hoàn toàn có quyền quyết định sử dụng mảnh đất này, muốn chuyển nhượng hay tặng cho ai cũng là quyền quyết định của họ.

Trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng sẽ không ghi nhận điều kiện nhận di sản thừa kế như trong di chúc vào trong nội dung của Giấy chứng nhận nên cũng không có cơ sở nào để cơ quan có thẩm quyền từ chối thực hiện các thủ tục liên quan như chuyển nhượng, tặng cho trong tương lai.

Cho nên trong trường hợp này, di nguyện của người ông là chỉ muốn để lại cho con cháu, không muốn con cháu chuyển nhượng hay tặng di sản thừa kế cho người ngoài thì nó cũng chỉ có giá trị về mặt tình cảm, nếu các con cháu thương và muốn làm đúng di nguyện của ông thì quá tốt.

Tuy nhiên nếu họ muốn chuyển nhượng hay tặng cho người khác thì về mặt quy định pháp luật là được, không có gì sai và cũng rất khó để kiểm soát việc đó.

Thông tin liên hệ

Trên đây là bài viết giải đáp thắc mắc về vấn đề ”Di chúc không được bán nhà”. Hy vọng bài viết có ích cho độc giả. Mọi thắc mắc, vướng mắc xin vui lòng gửi đến timluat để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời.

Câu hỏi thường gặp

Có được bán đất khi đã để lại di chúc cho con không?

Trước hết phải khẳng định, lập di chúc không đồng nghĩa tài sản trong di chúc đã thuộc về người được hưởng di chúc bởi các nguyên nhân sau đây:
– Thời điểm di chúc có hiệu lực là khi người lập di chúc chết.
– Sau khi lập di chúc, người để lại di sản hoàn toàn có quyền thay đổi, sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc huỷ bỏ di chúc cũng như có quyền truất quyền, chỉ định người thừa kế trong di sản… cho dù di chúc đó đã được công chứng hoặc chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền.
– Nếu có nhiều bản di chúc với một tài sản thì chỉ có bản di chúc sau cùng có hiệu lực.
Do đó, khi còn sống, cha mẹ hoàn toàn có quyền sửa đổi, thay thế, huỷ bỏ di chúc để lại di sản và cũng có quyền lập di chúc mới thay cho di chúc cũ để tặng cho di sản thừa kế của mình cho người con khác.
Không chỉ vậy, bởi khi còn sống, tài sản của một người sẽ được người đó định đoạt (tặng cho người khác, bán cho người khác, góp vốn…) theo quy định mà không ai có thể cản trở hoặc ép buộc. Nên mặc dù đã lập di chúc để lại tài sản cho con nhưng cha mẹ hoàn toàn có quyền bán đất đã lập di chúc.

Được phép lập di chúc viết tay không?

Hình thức di chúc gồm di chúc bằng văn bản và di chúc miệng, trong đó di chúc bằng văn bản gồm 04 loại theo quy định tại Điều 628 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể:
(1) Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.
(2) Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.
(3) Di chúc bằng văn bản có công chứng.
(4) Di chúc bằng văn bản có chứng thực.
Theo đó, pháp luật dân sự không quy định hay giải thích thế nào là di chúc viết tay. Tuy nhiên, căn cứ vào các loại di chúc bằng văn bản như trên và theo cách hiểu thông thường thì di chúc viết tay là di chúc không được công chứng hoặc chứng thực. Căn cứ theo các loại di chúc bằng văn bản và lý giải về di chúc viết tay thì có thể thấy Bộ luật Dân sự cho phép cá nhân được lập di chúc viết tay (gồm 02 loại, đó là di chúc bằng văn bản có người làm chứng và di chúc bằng văn bản không có người làm chứng).

5/5 - (1 bình chọn)