Viện kiểm sát là cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân. Khi phát hiện các sai phạm trong quá trình xét xử dân sự, Viện kiểm sát có thể kháng nghị để yêu cầu tòa án cấp trên xem xét lại bản án, quyết định mà tòa án cấp dưới đã đưa ra. Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự có vai trò rất quan trọng, góp phần đảm bảo công lý, sự công bằng trong xét xử và bảo vệ pháp luật. Khi đó, nhiều người băn khoăn không biết liệu theo quy định hiện nay, “Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự như thế nào?”. Hãy cùng với Tìm Luật làm rõ thắc mắc này qua bài viết sau nhé.
Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự
Kháng nghị là hành động phản đối hoặc yêu cầu sửa đổi một quyết định, phán quyết, hoặc hành vi nào đó mà người kháng nghị cho là sai, bất hợp lý, hoặc không công bằng. Trong lĩnh vực pháp lý, kháng nghị thường được sử dụng để yêu cầu tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền xem xét lại một phán quyết hoặc bản án đã có hiệu lực, khi có căn cứ cho rằng quyết định đó không đúng với quy định của pháp luật hoặc có sai sót trong quá trình xét xử.
Quyền kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) được quy định tại Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
Theo đó, quyền kháng nghị được VKSND thực hiện khi phát hiện hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì VKSND phải kháng nghị. Khi nhận được kháng nghị của VKSND cơ quan, người có thẩm quyền phải giải quyết kháng nghị của VKSND theo quy định của pháp luật.
Tương tự, quyền kiến nghị được VKSND thực hiện khi phát hiện hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng nghị nêu trên thì VKSND phải kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật; nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm. Khi nhận được kiến nghị của VKSND cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của VKSND theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, Luật TCVKSND năm 2014 quy định rất cụ thể trường hợp nào VKSND ban hành kháng nghị và trường hợp nào VKSND ban hành kiến nghị. Khi nhận được kháng nghị, kiến nghị của VKSND thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm thực hiện kháng nghị, kiến nghị đó. Luật TCVKSND năm 2002 quy định chế tài thực hiện kháng nghị, kiến nghị của VKSND còn chung chung nên ảnh hưởng không ít đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND.
Mặt khác, Điều 9 Luật TCVKSND năm 2014 đã quy định quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.
Theo đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định, yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của VKSND; có quyền kiến nghị, khiếu nại, tố cáo các hành vi, quyết định trái pháp luật của VKSND, VKSND phải giải quyết, trả lời theo quy định của pháp luật. Khi có căn cứ cho rằng hành vi, quyết định của VKSND không có căn cứ, trái pháp luật thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Tòa án và Cơ quan thi hành án có quyền kiến nghị, yêu cầu VKSND xem xét lại. VKSND phải giải quyết, trả lời theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân cản trở, can thiệp vào hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND; lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khác của VKSND.
Đồng thời, Điều 10 Luật TCVKSND năm 2014 quy định giám sát hoạt động của VKSND.
Theo đó, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận giám sát hoạt động của VKSND theo quy định của pháp luật.

Những ai có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện?
Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự không chỉ là công cụ để bảo vệ pháp luật mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và cộng đồng. Việc kháng nghị của Viện kiểm sát giúp tòa án xem xét lại các bản án, quyết định khi có sai sót, từ đó làm tăng tính trách nhiệm và năng lực của các thẩm phán và nâng cao chất lượng xét xử. Điều này không chỉ giúp cải thiện hoạt động của tòa án mà còn góp phần vào việc xây dựng một hệ thống tư pháp minh bạch và công bằng hơn.
Căn cứ theo khoản 1, khoản 2 Điều 36 Quy chế Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự (sau đây gọi chung là Quy chế) ban hành kèm theo Quyết định 505/QĐ-VKSTC năm 2017 quy định như sau:
Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm
1. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cùng cấp. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự khu vực kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực cùng cấp.
2. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu và Tòa án quân sự khu vực.
3. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu.
Đối với vụ án mà lãnh đạo Viện kiểm sát cấp trên đã có ý kiến chỉ đạo trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra hoặc xét xử sơ thẩm, nếu kháng nghị phải báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên xem xét, quyết định.
Như vậy, quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện là của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh. hành vi này.

Bản án hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị khi nào?
Kháng nghị có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ công lý và sự công bằng trong hệ thống tố tụng. Việc kháng nghị giúp ngăn chặn tình trạng áp dụng pháp luật một cách không thống nhất giữa các tòa án, đảm bảo không có sự bất công trong quá trình xét xử. Nhờ có thủ tục kháng nghị, những sai sót trong việc áp dụng pháp luật, điều tra, xác minh hoặc đánh giá chứng cứ có thể được khắc phục, giúp quá trình tố tụng được hoàn thiện hơn.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 37 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 505/QĐ-VKSTC năm 2017 quy định như sau:
Căn cứ và thời hạn kháng nghị
1. Bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
a) Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm không đầy đủ dẫn đến đánh giá không đúng tính chất của vụ án;
b) Kết luận, quyết định trong bản án, quyết định sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án;
c) Có sai lầm trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật khác;
d) Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.
2. Thời hạn kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án theo Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Như vậy, bản án hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm khi có một trong những căn cứ sau:
– Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm không đầy đủ dẫn đến đánh giá không đúng tính chất của vụ án;
– Kết luận, quyết định trong bản án, quyết định sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án;
– Có sai lầm trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật khác;
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.
Thông tin liên hệ
Trên đây là bài viết giải đáp thắc mắc về vấn đề ”Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự”. Hy vọng bài viết có ích cho độc giả. Mọi thắc mắc, vướng mắc xin vui lòng gửi đến timluat để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời.
Câu hỏi thường gặp
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật là bao lâu?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định như sau:
Thời hạn kháng nghị
1. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án.
2. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Như vậy, thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật là là 15 ngày đối với Viện kiểm sát cùng cấp, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án.
Căn cứ pháp lý về kháng nghị của Viện kiểm sát là gì?
Điều 336. Kháng nghị của Viện kiểm sát
1. Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm.
2. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát có các nội dung chính:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị;
b) Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;
c) Kháng nghị đối với toàn bộ hay một phần bản án, quyết định sơ thẩm;
d) Lý do, căn cứ kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát;
đ) Họ tên, chức vụ của người ký quyết định kháng nghị.