Kháng nghị phúc thẩm là một thủ tục pháp lý trong hệ thống tố tụng của Việt Nam, được quy định trong các văn bản pháp lý liên quan. Đây là một cơ chế để yêu cầu tòa án cấp cao (tòa án phúc thẩm) xem xét lại bản án hoặc quyết định của tòa án cấp dưới (tòa án sơ thẩm) khi có căn cứ cho rằng có sai sót trong quá trình xét xử, từ việc áp dụng pháp luật cho đến việc đánh giá chứng cứ và quyết định cuối cùng. Khi đó, nhiều người băn khoăn không biết liệu theo quy định hiện nay, “Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự được quy định như thế nào?”. Nội dung này sẽ được làm rõ thông qua bài viết sau của Tìm Luật, bạn đọc hãy cùng theo dõi nhé.
Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự được quy định như thế nào?
Kháng nghị phúc thẩm trong vụ án dân sự có ý nghĩa rất quan trọng trong hệ thống tố tụng, bởi vì nó giúp đảm bảo rằng các phán quyết của tòa án cấp sơ thẩm được xem xét kỹ lưỡng, công bằng và đúng pháp luật. Mục đích của việc kháng nghị phúc thẩm là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân và tổ chức, xem xét lại những sai sót, thiếu sót hoặc các quyết định không công bằng của tòa án sơ thẩm, đảm bảo tính công bằng và đúng đắn trong quá trình xét xử.
Căn cứ theo khoản 1, khoản 2 Điều 36 Quy chế Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự (sau đây gọi chung là Quy chế) ban hành kèm theo Quyết định 505/QĐ-VKSTC năm 2017 quy định như sau:
Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm
1. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cùng cấp. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự khu vực kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực cùng cấp.
2. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu và Tòa án quân sự khu vực.
3. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu.
Đối với vụ án mà lãnh đạo Viện kiểm sát cấp trên đã có ý kiến chỉ đạo trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra hoặc xét xử sơ thẩm, nếu kháng nghị phải báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên xem xét, quyết định.
Như vậy, quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện là của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh.ân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao sẽ có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Bản án hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm khi có một trong những căn cứ nào?
Kháng nghị phúc thẩm là cơ chế pháp lý giúp các bên trong vụ án dân sự (người khởi kiện, bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) có thể yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại các quyết định của tòa án cấp sơ thẩm mà họ cho là không đúng. Việc này giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự nếu họ cho rằng bản án sơ thẩm bị sai sót trong việc áp dụng pháp luật, đánh giá chứng cứ hoặc xét xử.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 37 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 505/QĐ-VKSTC năm 2017 quy định như sau:
Căn cứ và thời hạn kháng nghị
1. Bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
a) Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm không đầy đủ dẫn đến đánh giá không đúng tính chất của vụ án;
b) Kết luận, quyết định trong bản án, quyết định sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án;
c) Có sai lầm trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật khác;
d) Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.
2. Thời hạn kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án theo Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Như vậy, bản án hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm khi có một trong những căn cứ sau:
– Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm không đầy đủ dẫn đến đánh giá không đúng tính chất của vụ án;
– Kết luận, quyết định trong bản án, quyết định sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án;
– Có sai lầm trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật khác;
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.

Thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự
Kháng nghị phúc thẩm là một cơ chế kiểm soát và giám sát hoạt động của tòa án cấp sơ thẩm, giúp ngăn ngừa việc xét xử sai sót, làm mất công lý. Việc có một cơ quan (tòa án phúc thẩm) để xem xét lại các quyết định của tòa án cấp dưới giúp duy trì sự công bằng trong hệ thống tư pháp. Khi các bản án sơ thẩm có sai sót, việc kháng nghị phúc thẩm có thể giúp điều chỉnh và bảo vệ sự ổn định của pháp luật, củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tư pháp.
Theo quy định tại Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thòi hạn kháng nghị đối với bản án của tòa án cấp sơ thẩm của viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thòi hạn kháng nghị tính từ ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án.
Thời hạn kháng nghị của viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của viện kiểm sát cấp trên trực tiếp làio ngày, kể từ ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.
Khi tòa án nhận được quyết định kháng nghị của viện kiểm sát mà quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn thì tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu viện kiểm sát giải thích bằng văn bản và nêu rõ lí do.
Thông tin liên hệ
Trên đây là bài viết giải đáp thắc mắc về vấn đề ”Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự”. Hy vọng bài viết có ích cho độc giả. Mọi thắc mắc, vướng mắc xin vui lòng gửi đến timluat để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời.
Câu hỏi thường gặp
Án phí dân sự phúc thẩm đối với vụ án lao động là bao nhiêu?
Căn cứ theo Danh mục A Danh mục án phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 thì án phí dân sự phúc thẩm đối với vụ án lao động là 300.000 đồng.
Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là gì?
Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, cụ thể:
– Các bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
– Các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.
Các quyết định khác của tòa án cấp sơ thẩm như quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định chuyển vụ án cho tọà án khác giải quyết, quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự, quyết định đưa vụ án ra xét xử không phải là đối tượng của kháng cáo hoặc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.