Phiên tòa sơ thẩm dân sự là một trong các giai đoạn xét xử đầu tiên trong hệ thống tư pháp tại Việt Nam, nhằm giải quyết các vụ án dân sự theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Đây là bước đầu trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của các bên và thực hiện công lý. Thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm dân sự là một giai đoạn quan trọng nhằm làm rõ các tình tiết, chứng cứ liên quan đến vụ án, giúp Hội đồng xét xử có cơ sở để đưa ra phán quyết công bằng. Khi đó, nhiều người băn khoăn không biết liệu theo quy định hiện nay, “Thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm dân sự như thế nào?”. Hãy cùng Tìm Luật tìm lời giải đáp qua bài viết sau đây nhé.
Thủ tục khai mạc phiên tòa
Thủ tục khai mạc phiên tòa là bước đầu tiên trong quy trình xét xử tại phiên tòa sơ thẩm (hoặc các phiên tòa khác), nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch và đúng quy định pháp luật trong quá trình tố tụng. Thủ tục khai mạc là tiền đề quan trọng để phiên tòa tiến hành xét xử theo trình tự, đảm bảo tính khách quan và công bằng, giúp định hướng nội dung vụ án, tạo cơ sở cho các bước tiếp theo trong quá trình xét xử.
– Kiểm tra căn cước những người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa và xử lý yêu cầu xin thay đổi người tiến hành tố tụng:
Để phiên tòa được tiến hành một cách chặt chẽ, đúng tố tụng thì thư ký phải kiểm tra và báo cáo chính xác cho Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt và lý do vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa.
Khi Hội đồng xét xử ra làm việc thì chủ tọa phải kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo và họ đã ngồi đúng vào vị trí đã quy định, thuận lợi cho việc đứng dậy trình bày khi Tòa yêu cầu hay chưa? Đồng thòi, phải kiểm tra căn cước của các đương sự.
Trong thực tế, đã có chủ tọa phiên tòa do chủ quan chỉ hỏi lướt qua mà không kiểm tra kỹ căn cước dẫn đến nhầm đương sự (vì cùng thôn, cùng họ, cùng tên chỉ khác tên đệm và ở vụ án khác). Vì vậy, khi thấy có sự khác biệt dù nhỏ cũng phải hỏi kỹ hơn, thì mới có thể tránh nhầm lẫn.
– Chủ tọa phiên tòa phải phổ biến quyền hạn, nghĩa vụ của cấc đương sự và những người tham gia tố tụng khác, giới thiệu những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem các đương sự có đề nghị thay đổi ai không, lý do thay đổi.
Trong trưòng hợp có người xin thay đổi những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch thì Hội đồng xét xử phải xem xét và quyết định.
– Trước khi Hội đồng xét xử quyết định thì cần nghe ý kiến của người bị thay đổi, Hội đồng thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số. Khi Hội đồng thảo luận thấy yêu cầu xin thay đổi là chính đáng, ví dụ thuộc trường hợp quy định ở các điều 52, 53, 60, 54… Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì Hội đồng xét xử phải chấp nhận, nếu việc xin thay đổi là không chính đáng thì Hội đồng xét xử không chấp nhận và nêu rõ lý do vì sao không chấp nhận.
– Bảo đảm tính khách quan trong lời khai của người làm chứng:
Trong trưòng hợp chủ tọa phiên tòa nhận thấy, nếu để cho những người làm chứng hoặc giữa đương sự và người làm chứng tiếp xúc vối nhau hoặc nghe lời khai của nhau sẽ ảnh hưởng đến tính khách quan trong lời khai của họ thì chủ tọa phiên tòa có thể quyết định cách ly đương sự với người làm chứng, cách ly giữa các nhân chứng trước khi hỏi người làm chứng đó.

Thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm dân sự như thế nào?
Thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm dân sự mang ý nghĩa quan trọng, góp phần đảm bảo tính khách quan, minh bạch và công bằng trong quá trình giải quyết vụ án. Thủ tục hỏi tạo điều kiện cho các bên (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) trực tiếp trình bày quan điểm, cung cấp chứng cứ, hoặc giải thích những vấn đề được đặt ra. Các bên có thể phản biện hoặc làm rõ những luận điểm, yêu cầu của phía đối lập, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Khái niệm: Xét hỏi tại phiên tòa là một giai đoạn quan trọng trong quá trình xét xử, trong đó các bên liên quan, bao gồm Hội đồng xét xử, Viện kiểm sát, luật sư, bị cáo, nguyên đơn, bị đơn hoặc người liên quan khác, tiến hành hỏi đáp nhằm làm rõ các tình tiết của vụ án, xác minh sự thật và thu thập các chứng cứ phục vụ cho việc ra phán quyết.
Điều kiện: Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý.
Thời gian: Ngay tại phiên tòa
Cơ quan thẩm quyền: Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Lệ phí: Miễn phí
Trình tự phát biểu khi tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo Điều 260 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 như sau:
– Sau khi kết thúc việc hỏi, Hội đồng xét xử chuyển sang phần tranh luận tại phiên tòa. Trình tự phát biểu khi tranh luận được thực hiện như sau:
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày. Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến. Trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện cơ quan, tổ chức trình bày ý kiến. Người có quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ có quyền bổ sung ý kiến;
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tranh luận, đối đáp. Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến;
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến;
+ Các đương sự đối đáp theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa;
+ Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể yêu cầu các đương sự tranh luận bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm căn cứ giải quyết vụ án.
– Trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì họ tự mình trình bày khi tranh luận.
– Trường hợp vắng mặt một trong các đương sự và người tham gia tố tụng khác thì chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của họ để trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại phiên tòa tranh luận và đối đáp.

Trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Trình bày của đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm dân sự là một phần quan trọng trong quá trình xét xử, giúp làm rõ quan điểm, yêu cầu, và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Người tham gia tố tụng có cơ hội được trình bày ý kiến, giải thích và bảo vệ quan điểm của mình trước tòa. Điều này không chỉ nâng cao tính dân chủ mà còn củng cố lòng tin vào hệ thống tư pháp.
Theo Điều 248 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự như sau:
– Trường hợp có đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình và các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì các đương sự trình bày theo trình tự sau đây:
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày về yêu cầu và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp. Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến.
Trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án thì đại diện cơ quan, tổ chức trình bày về yêu cầu và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp;
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến;
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu, đề nghị của nguyên đơn, bị đơn;
Yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến.
– Trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày về yêu cầu, đề nghị của mình và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp.
– Tại phiên tòa, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ có quyền bổ sung chứng cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị của mình.
– Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh tụng trình bày hết ý kiến nhưng có quyền yêu cầu họ dừng trình bày những ý kiến không có liên quan đến vụ án dân sự.
Thông tin liên hệ
Trên đây là bài viết giải đáp thắc mắc về vấn đề ”Thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm dân sự”. Hy vọng bài viết có ích cho độc giả. Mọi thắc mắc, vướng mắc xin vui lòng gửi đến timluat để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời.
Câu hỏi thường gặp
Nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự quy định như thế nào?
Nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo Điều 247 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 như sau:
– Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án.
– Việc tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa.
Giai đoạn phân công thẩm phán xem xét đơn như thế nào?
Khoản 2 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:
– Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
– Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
– Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
– Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.