Mạng xã hội là không gian mở, nơi mọi người có thể chia sẻ thông tin, kết nối và bày tỏ quan điểm cá nhân. Tuy nhiên, không phải ai cũng ý thức được ranh giới giữa tự do ngôn luận và quyền riêng tư của người khác. Tình trạng lạm dụng mạng xã hội từ việc thu thập dữ liệu cá nhân trái phép, lộ thông tin nhạy cảm cho đến các hành vi theo dõi, quấy rối trực tuyến, quyền riêng tư của người dùng đang bị đe dọa nghiêm trọng. Hiện nay, nhiều người băn khoăn không biết liệu theo quy định hiện nay, “Xâm phạm quyền riêng tư trên mạng xã hội xử phạt thế nào?”. Bài viết sau đây Tìm Luật sẽ làm sáng tỏ về vấn đề này nhé.
Pháp luật quy định như thế nào về bảo vệ quyền riêng tư?
Mạng xã hội mang lại nhiều lợi ích trong việc kết nối và chia sẻ thông tin, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền riêng tư. Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sự bùng nổ của mạng xã hội và các nền tảng trực tuyến, nguy cơ bị xâm phạm quyền riêng tư ngày càng gia tăng. Nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân, nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã ban hành các quy định pháp luật cụ thể về việc thu thập, sử dụng và bảo vệ thông tin cá nhân.
Quyền riêng tư hay còn có thể hiểu quyền của mỗi cá nhân được tự do quyết định thông tin về bản thân mình và kiểm soát việc chia sẻ thông tin đó với người khác.
Quyền riêng tư bao gồm quyền được bảo vệ khỏi sự can thiệp trái phép vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở hoặc thư tín, cũng như quyền được bảo vệ danh dự và uy tín.
Căn cứ theo Điều 21 Hiến pháp 2013 quy định như sau:
Điều 21.
1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.
Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn.
2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.
Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.
Đồng thời tại Điều 38 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình như sau:
Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
2. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.
3. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.
4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Qua đó có thể thấy pháp luật Việt Nam hiện nay quy định quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là quyền bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
Quyền riêng tư của cá nhân không được xâm phạm gồm có: thông tin cá nhân; cuộc sống riêng tư; bí mật cá nhân; bí mật gia đình.
Như vậy, hành vi xâm phạm quyền riêng tư là hành vi vi phạm pháp luật và có những biện pháp xử lý cụ thể đối với từng hành vi. nêu tại Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015 với khung hình phạt cao nhất là 07 năm tù khi vu khống vì động cơ đê hèn hoặc khiến nạn nhân bị rối loạn tâm thần và hành vi mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc khiến nạn nhân tự sát.

Xâm phạm quyền riêng tư trên mạng xã hội xử phạt thế nào?
Mạng xã hội mang đến sự kết nối, chia sẻ và tương tác chưa từng có, giúp con người xích lại gần nhau hơn dù ở bất cứ đâu. Tuy nhiên, đi kèm với sự tiện lợi ấy là nguy cơ quyền riêng tư của người dùng bị xâm phạm. Thông tin cá nhân bị thu thập, theo dõi, thậm chí bị lợi dụng mà không có sự đồng ý rõ ràng, khiến nhiều người trở thành nạn nhân của lạm dụng dữ liệu và đánh cắp thông tin. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng này? Hệ lụy của nó ảnh hưởng ra sao đến mỗi cá nhân và xã hội? Hãy cùng phân tích trong bài viết dưới đây.
Ở đây chỉ đề cập đến trường hợp xâm phạm quyền riêng tư (dữ liệu cá nhân) của người khác trên môi trường mạng
Căn cứ theo Điều 4 Nghị định 13/2023/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân như sau:
Xử lý vi phạm quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân
Cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân tùy theo mức độ có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý hình sự theo quy định.
Tại Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin như sau:
Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin
…
3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
…
g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;
…
m) Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
…
Đồng thời tại điểm g khoản 3 Điều 4 Nghị định 15/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 5 Điều 1 Nghị định 14/2022/NĐ-CP quy định về mức phạt tiền và thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức như sau:
Quy định về mức phạt tiền và thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức
…
3. Mức phạt tiền quy định từ Chương II đến Chương VII tại Nghị định này được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức, trừ quy định tại Điều 106 Nghị định này. Trường hợp cá nhân có hành vi vi phạm như của tổ chức thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.
…
Theo đó, hành vi cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác hoặc tiết lộ thông tin đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị phạt tiền:
– Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức vi phạm
– Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân vi phạm

Hành vi xâm phạm quyền riêng tư của người khác có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Trong xã hội hiện đại, quyền riêng tư của cá nhân ngày càng được đề cao và bảo vệ chặt chẽ bởi pháp luật. Tuy nhiên, không ít trường hợp thông tin cá nhân bị thu thập, phát tán hoặc sử dụng trái phép, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và danh dự của người bị xâm phạm. Điều này dẫn đến thắc mắc: Liệu hành vi xâm phạm quyền riêng tư có thể bị xử lý hình sự hay không? Bài viết dưới đây sẽ giúp làm rõ những vấn đề pháp lý liên quan đến hành vi xâm phạm quyền riêng tư và trách nhiệm hình sự đi kèm.
Căn cứ vào Điều 59 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác như sau:
Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
a) Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;
b) Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;
c) Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;
d) Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;
đ) Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác;
đ) Làm nạn nhân tự sát.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, hành vi chụp lén đoạn tin nhắn hội thoại của người khác đã là hành vi xâm phạm quyền riêng tư. Sau đó còn có hành vi đăng lên mạng xã hội để nói xấu còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ các yếu tố cấu thành nên tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác nêu trên.
Thông tin liên hệ
Trên đây là bài viết giải đáp thắc mắc về vấn đề ”Xâm phạm quyền riêng tư trên mạng xã hội”. Hy vọng bài viết có ích cho độc giả. Mọi thắc mắc, vướng mắc xin vui lòng gửi đến timluat để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời.
Câu hỏi thường gặp
Xâm phạm quyền riêng tư của người khác bị truy cứu trách nhiệm hình sự bao nhiêu năm tù?
Việc xâm phạm quyền riêng tư của người khác có thể truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo hành vi cụ thể, có thể phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm. Hình phạt cụ thể sẽ do Tòa án quyết định.
Quyền riêng tư của con gồm những quyền nào?
Căn cứ Điều 21 Hiến pháp năm 2013, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình là những vấn đề được pháp luật bảo vệ, không ai có quyền xâm phạm. Đồng thời, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín… cũng là thông tin riêng tư được pháp luật bảo vệ.
Đây là quy định áp dụng chung với mọi công dân Việt Nam trong đó có trẻ em. Đồng thời, Điều 21 Luật Trẻ em năm 2016 cũng quy định về quyền bí mật đời sống riêng tư của trẻ như sau:
Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư.
Như vậy, có thể thấy, bất cứ thông tin nào liên quan đến bí mật cá nhân hoặc thư tín, danh dự, nhân phẩm của con đều là quyền riêng tư của con. Và mọi hành vi xâm phạm trái phép đều là hành vi vi phạm pháp luật.
Trong đó, các hành vi xâm phạm quyền riêng tư của con cái mà cha mẹ hay mắc là việc xâm phạm bí mật thư tín. Hành vi xâm phạm bí mật thư tín, điện thoại… của con là hành vi xảy ra phổ biến nhất thường gặp ở các bậc phụ huynh. Cụ thể, kiểm tra điện thoại, các mạng xã hội… của con.