Xâm phạm quyền riêng tư là điều mấy

48
Xâm phạm quyền riêng tư là điều mấy

Xâm phạm quyền riêng tư là một vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện đại, khi công nghệ số phát triển mạnh mẽ và thông tin cá nhân ngày càng dễ bị thu thập, lạm dụng. Quyền riêng tư không chỉ là một nhu cầu cá nhân mà còn là một quyền cơ bản được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, nhiều cá nhân, tổ chức vẫn vô tình hoặc cố ý vi phạm quyền này, gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với đời sống cá nhân và xã hội. Hiện nay, nhiều người băn khoăn không biết liệu theo quy định hiện nay, “Xâm phạm quyền riêng tư là điều mấy?”. Thắc mắc này của quý độc giả sẽ được làm sáng tỏ thông qua bài viết dưới đây của Tìm Luật nhé.

Quy định về quyền riêng tư như thế nào?

Trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ, khi mọi hoạt động trực tuyến đều để lại dấu vết kỹ thuật số, quyền riêng tư trở thành một vấn đề nóng hổi, thu hút sự quan tâm của cá nhân, tổ chức và cả các cơ quan quản lý. Những thông tin tưởng chừng như vô hại như tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại, thói quen sử dụng internet có thể bị thu thập, phân tích và sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, từ quảng cáo cá nhân hóa đến các hoạt động vi phạm pháp luật như lừa đảo hoặc đánh cắp danh tính.

Căn cứ theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Dân sự 2015 quy định quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình như sau:

Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.

3. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.

4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

Bên cạnh đó, Điều 21 Hiến pháp 2013 cũng quy định quyền riêng tư về bí mật thư tín, điện thoại, điện tín như sau:

1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.

Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn.

2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.

Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.

Như vậy, mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.

Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn. Không ai được xâm phạm quyền riêng tư của người khác.ức vụ nhất định từ 01 năm – 05 năm.

Xâm phạm quyền riêng tư là điều mấy

Xâm phạm quyền riêng tư là điều mấy?

Trong thời đại số hóa bùng nổ, khi mọi hoạt động, suy nghĩ, thói quen cá nhân đều có thể bị ghi lại, theo dõi và phân tích, quyền riêng tư ngày càng trở thành một vấn đề đáng báo động. Chỉ với một vài cú nhấp chuột, thông tin cá nhân của một người có thể bị thu thập, chia sẻ hoặc thậm chí mua bán mà chính chủ nhân của nó không hề hay biết. Vậy, ranh giới giữa quyền riêng tư và sự xâm phạm nằm ở đâu? Khi nào một hành vi bị xem là vi phạm quyền riêng tư, và mức độ nghiêm trọng của nó đến đâu? Đây không chỉ là câu chuyện của riêng ai, mà là vấn đề chung của cả xã hội trong thời đại công nghệ.

Căn cứ theo Điều 4 Nghị định 13/2023/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân như sau:

Xử lý vi phạm quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân

Cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân tùy theo mức độ có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý hình sự theo quy định.

Tại Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin như sau:

Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;

m) Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

Đồng thời tại điểm g khoản 3 Điều 4 Nghị định 15/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 5 Điều 1 Nghị định 14/2022/NĐ-CP quy định về mức phạt tiền và thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức như sau:

Quy định về mức phạt tiền và thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức

3. Mức phạt tiền quy định từ Chương II đến Chương VII tại Nghị định này được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức, trừ quy định tại Điều 106 Nghị định này. Trường hợp cá nhân có hành vi vi phạm như của tổ chức thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.

Theo đó, hành vi cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác hoặc tiết lộ thông tin đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị phạt tiền:

– Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức vi phạm

– Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân vi phạm

Xâm phạm quyền riêng tư là điều mấy
Xâm phạm quyền riêng tư là điều mấy

Trách nhiệm hình sự khi xâm phạm quyền riêng tư của người khác

Những hành vi xâm phạm quyền riêng tư không chỉ là vấn đề đạo đức mà trong nhiều trường hợp còn vi phạm nghiêm trọng pháp luật. Để bảo vệ quyền lợi cá nhân, nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã đưa ra các quy định nghiêm ngặt về xử lý hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền riêng tư. Nhưng câu hỏi đặt ra là: Khi nào một hành vi xâm phạm quyền riêng tư bị coi là vi phạm hình sự? Các yếu tố nào quyết định mức độ nghiêm trọng của hành vi này? Việc hiểu rõ vấn đề này này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một xã hội văn minh, nơi quyền riêng tư được tôn trọng và bảo vệ chặt chẽ.

Theo Điều 159 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác như sau:

Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;

b) Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;

c) Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;

d) Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;

đ) Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác;

đ) Làm nạn nhân tự sát.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo đó, việc xâm phạm quyền riêng tư của người khác có thể truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo hành vi cụ thể, có thể phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm. Hình phạt cụ thể sẽ do Tòa án quyết định.

Thông tin liên hệ

Trên đây là bài viết giải đáp thắc mắc về vấn đềXâm phạm quyền riêng tư là điều mấy. Hy vọng bài viết có ích cho độc giả. Mọi thắc mắc, vướng mắc xin vui lòng gửi đến timluat để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời.

Câu hỏi thường gặp

Mức phạt khi xâm phạm hình ảnh cá nhân là bao nhiêu?

– Phạt tiền từ 03 – 05 triệu đồng đối với hành vi dùng ảnh trẻ dưới 07 tuổi để minh hoạ trên xuất bản phẩm mà không được đồng ý (theo điểm c khoản 2 Điều 25 Nghị định 119/2020/NĐ-CP)
Phạt tiền từ 20 – 40 triệu đồng đối với hành vi dùng ảnh cá nhân để quảng cáo mà không được phép (theo điểm b khoản 3 Điều 34 Nghị định 38/2021/NĐ-CP).
– Phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng đối với hành vi dùng ảnh người khác trên mạng xã hội mà không được cho phép (theo điểm e khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP).

Mức phạt danh dự, nhân phẩm, uy tín là bao nhiêu?

– Phạt tiền từ 02 – 03 triệu đồng đối với hành vi khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác (căn cứ điểm a khoản 3 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP);
– Phạt tiền từ 05 – 20 triệu đồng đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình (Điều 54 Nghị định 144/2021/NĐ-CP).
– Phạt tiền từ 20 – 30 triệu đồng đối với hành vi đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín, danh dự và nhân phẩm cá nhân trên môi trường mạng (theo điểm a khoản 3 Điều 99 Nghị định 15/2020/NĐ-CP).

5/5 - (1 bình chọn)