Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các mối quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài trở nên phổ biến. Đối với đảng viên – những người giữ vai trò quan trọng trong tổ chức Đảng và bộ máy nhà nước, việc có con kết hôn với người nước ngoài không chỉ là vấn đề cá nhân mà còn liên quan đến trách nhiệm chính trị, nghĩa vụ báo cáo theo quy định của Đảng. Khi đó, nhiều người băn khoăn không biết liệu theo quy định hiện nay, “Đảng viên có con kết hôn với người nước ngoài có cần báo cáo?”. Nội dung này sẽ được Tìm Luật làm sáng tỏ qua bài viết bên dưới nhé.
Con của Đảng viên có được kết hôn với người nước ngoài không?
Đối với con của Đảng viên – những người có mối quan hệ đặc biệt với tổ chức chính trị của Việt Nam, việc kết hôn với người nước ngoài có thể đặt ra những thắc mắc về quy định pháp lý và nguyên tắc quản lý cán bộ, đảng viên. Liệu có bất kỳ ràng buộc nào đối với họ khi con cái của họ lựa chọn bạn đời là người nước ngoài? Pháp luật và các quy định của Đảng có đặt ra yêu cầu đặc biệt nào trong trường hợp này không? Bài viết dưới đây sẽ làm rõ vấn đề này.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
Nam, nữ đều có quyền đăng ký kết hôn với nhau khi đáp ứng những điều kiện được quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
Điều kiện kết hôn
1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
Căn cứ điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về những trường hợp cấm kết hôn như sau:
Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình
…
2. Cấm các hành vi sau đây:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
…
Pháp luật không có quy định cấm con của Đảng viên kết hôn với người nước ngoài.
Do đó, con của Đảng viên vẫn được quyền kết hôn với người nước ngoài khi đáp ứng những điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định.hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Đảng viên có con kết hôn với người nước ngoài có cần báo cáo?
Trong thời đại hội nhập, tình yêu không còn bị giới hạn bởi biên giới quốc gia. Ngày càng có nhiều công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, bao gồm cả con của các đảng viên. Tuy nhiên, đối với những người giữ vai trò trong tổ chức Đảng, mọi mối quan hệ gia đình đều có thể gắn liền với trách nhiệm chính trị và nguyên tắc tổ chức. Vậy khi con của đảng viên kết hôn với người nước ngoài, họ có bắt buộc phải báo cáo không? Đây chỉ là một thủ tục hành chính đơn thuần hay còn mang ý nghĩa sâu xa hơn? Bài viết này sẽ đi sâu vào các quy định hiện hành.
Hôn nhân với người nước ngoài ngày càng trở nên phổ biến trong xã hội hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, đối với đảng viên – những người có nghĩa vụ chấp hành và tuân thủ các quy định của Đảng, việc con cái kết hôn với người nước ngoài có thể đặt ra yêu cầu về báo cáo nhằm đảm bảo tính minh bạch, tránh những ảnh hưởng tiêu cực đến công tác tổ chức và quản lý cán bộ.
Theo quy định tại Điều 18 Hướng dẫn 02-HD/UBKTTW năm 2021 như sau:
Tổ chức, tham gia đánh bạc dưới mọi hình thức; sử dụng các chất ma túy; sử dụng rượu, bia không đúng quy định hoặc đến mức bê tha và các tệ nạn xã hội khác.
Tổ chức việc cưới, việc tang và các sự kiện khác của cá nhân, gia đình xa hoa, lãng phí hoặc nhằm mục đích vụ lợi.
Thờ ơ, vô cảm với các hành vi sai trái trong xã hội; có hành vi bạo lực trong gia đình; vi phạm chính sách dân số; sống chung với người khác như vợ chồng; vi phạm quy định về kết hôn với người nước ngoài.
Đảng viên không được:
1. Tổ chức, tham gia đánh bạc, lôi kéo, xúi giục, kích động người khác tham gia đánh bạc dưới mọi hình thức.
2. Sử dụng các chất ma túy, các chất gây nghiện, chất hướng thần khác (trừ trường hợp được bác sỹ chỉ định để chữa bệnh).
3. Uống rượu, bia trước, trong giờ làm việc; trong sinh hoạt hàng ngày tới mức bê tha, mất tư cách; không làm chủ được hành vi ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn giao thông hoặc có hành vi thiếu văn hóa.
4. Có lối sống trụy lạc, sa đọa, suy đồi đạo đức hoặc có hành vi trái với chuẩn mực đạo đức tác động xấu đến cá nhân, gia đình và xã hội.
5. Tổ chức việc cưới, việc tang và các sự kiện khác của cá nhân, gia đình (ngày lễ, tết, sinh nhật, lên chức, mừng nhà mới, mừng thọ, chuyển công tác,…) một cách phô trương hình thức, lãng phí gây phản cảm, bức xúc trong xã hội. Lợi dụng việc cưới, việc tang và các sự kiện khác để vụ lợi hoặc đem lại lợi ích riêng cho bản thân, gia đình hoặc cho người khác.
6. Im lặng, bàng quan để sự việc xấu xảy ra miễn là không đụng chạm đến lợi ích của bản thân, gia đình, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh.
7. Có hành vi bạo lực hoặc che giấu, dung túng, cản trở việc ngăn chặn các hành vi bạo lực về thể chất và tinh thần (đánh đập, hành hạ, ngược đãi, xua đuổi, ngăn cản,…) đối với người thân trong gia đình.
8. Vi phạm chính sách dân số; sống chung với người khác (không phải vợ, chồng mình) như vợ chồng.
9. Kết hôn hoặc có con kết hôn với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà không báo cáo trung thực với tổ chức đảng quản lý trực tiếp và chưa được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.
Theo quy định trên, Đảng viên có con kết hôn với người nước ngoài thì phải báo cáo trung thực với tổ chức đảng quản lý trực tiếp và được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.

Đảng viên không báo cáo về việc kết hôn của con mình với người nước ngoài thì bị xử lý kỷ luật thế nào?
Trong tổ chức Đảng, kỷ luật và trách nhiệm luôn được đặt lên hàng đầu nhằm đảm bảo tính minh bạch, gương mẫu của đảng viên. Khi con của đảng viên kết hôn với người nước ngoài, việc báo cáo theo quy định không chỉ là một thủ tục hành chính mà còn thể hiện tinh thần chấp hành nghiêm túc các nguyên tắc của Đảng. Tuy nhiên, nếu đảng viên không thực hiện nghĩa vụ báo cáo, họ có thể phải đối mặt với những hình thức xử lý kỷ luật nhất định.
Căn cứ Điều 34 Quy định 69-QĐ/TW năm 2022 quy định về vi phạm quy định quan hệ với tổ chức, cá nhân người nước ngoài như sau:
Vi phạm quy định quan hệ với tổ chức, cá nhân người nước ngoài
1. Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:
…
e) Không báo cáo cấp ủy nơi sinh hoạt và cấp ủy quản lý về việc cho cá nhân, tổ chức nước ngoài thuê tài sản của mình; có cha, mẹ đẻ, người trực tiếp nuôi dưỡng mình hoặc vợ (chồng), vợ hoặc chồng, con, anh, chị, em ruột sinh sống, định cư ở nước ngoài; có con kết hôn với người nước ngoài; có vợ hoặc chồng, con đi học ở nước ngoài.
…
2. Trường hợp đã kỷ luật theo Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):
a) Có tiền, kim loại quý, đá quý, hiện vật, giấy tờ có giá trị đang gửi ở ngân hàng nước ngoài trái quy định.
b) Chuyển tiền, tài sản cho người nước ngoài, ra nước ngoài trái quy định.
c) Làm tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, dịch vụ và tổ chức, cá nhân nước ngoài gây hại đến lợi ích quốc gia.
d) Liên doanh, liên kết, đầu tư vốn dưới mọi hình thức với tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà không báo cáo hoặc chưa được sự đồng ý của tổ chức đảng có thẩm quyền.
đ) Cho cá nhân, tổ chức nước ngoài thuê tài sản của Đảng, Nhà nước khi chưa được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.
3. Trường hợp vi phạm Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:
a) Quan hệ với tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài chống Đảng, Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia, lợi ích đất nước, dân tộc.
b) Biết nhưng vẫn nhận tài trợ của cá nhân, tổ chức có hoạt động chống Đảng, Nhà nước.
c) Đồng tình, bao che, tiếp tay cho hoạt động của người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài chống Đảng, Nhà nước.
d) Cung cấp, tiết lộ thông tin, tài liệu, hiện vật thuộc bí mật của Đảng, Nhà nước cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, cá nhân và tổ chức chính trị thù địch, phản động dưới mọi hình thức.
đ) Hoạt động trong các đảng phái, tổ chức chính trị thù địch, phản động nước ngoài.
e) Nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản, mua, bán tài sản ở nước ngoài trái quy định.
Như vậy, Đảng viên không báo cáo về việc kết hôn của con mình với người nước ngoài có thể bị xử lý ký luật bằng hình thức khiển trách nếu gây hậu quả ít nghiêm trọng.
Trường hợp việc không báo cáo này gây hậu quả nghiêm trọng thì Đảng viên có thể bị xử lý ký luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ).
Trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng thì Đảng viên có thể bị xử lý ký luật bằng hình thức khai trừ.
Thông tin liên hệ
Trên đây là bài viết giải đáp thắc mắc về vấn đề ”Đảng viên có con kết hôn với người nước ngoài có cần báo cáo?”. Hy vọng bài viết có ích cho độc giả. Mọi thắc mắc, vướng mắc xin vui lòng gửi đến timluat để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời.
Câu hỏi thường gặp
Bố mẹ là Đảng viên con cái có được kết hôn với người nước ngoài không?
Hiện nay, theo quy định tại Điều tại Quy định 69-QĐ/TW ngày 06 tháng 7 năm 2022 Quy định về kỷ luật tổ chức Đảng, Đảng viên vi phạm, có quy định về việc vi phạm quy định về kết hôn với người nước ngoài đối với Đảng viên như sau
– Trường hợp có con kết hôn với người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà không báo cáo trung thực bằng văn bản với chi bộ nơi sinh hoạt, cấp ủy quản lý mình về lai lịch, thái độ chính trị của con dấu (hoặc con rể) và cha, mẹ ruột của họ.
– Biết nhưng để con kết hôn với người nước ngoài vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về hôn nhân và gia đình.
Như vậy, căn cứ theo quy định trên, hiện nay không cấm con của Đảng viên kết hôn với người nước ngoài. Tuy nhiên, đối với Đảng viên, theo Điều lệ Đảng và các văn bản điều chỉnh có liên quan có quy định, trong trường hợp Đảng viên có con kết hôn với người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải thực hiện thông báo trung thực bằng văn bản với chi bộ, thường trực cấp ủy quản lý mình về lai lịch, thái độ chính trị của con dâu (con rể) và cha, mẹ ruột của họ. Ngoài ra, hiện nay, Đảng viên không được phép ép con kết hôn với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhằm mục đích vụ lợi, và trong trường hợp biết con kết hôn với người nước ngoài vi phạm quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì phải có các biện pháp ngăn chặn.
Kết hôn, sinh con bổ sung hồ sơ đảng viên như thế nào?
Quy trình bổ sung hồ sơ đảng viên được thực hiện qua các bước sau:
+ Chi ủy hoặc chi bộ đảng viên sẽ hướng dẫn và thu nhận phiếu bổ sung hồ sơ đảng viên, kiểm tra và xác nhận những thay đổi. Sau đó, thông tin bổ sung sẽ được ghi vào danh sách đảng viên của chi bộ và phiếu bổ sung hồ sơ đảng viên sẽ được chuyển lên đảng ủy cơ sở.
+ Cấp ủy cơ sở tiếp nhận phiếu bổ sung và ghi chú thêm vào lý lịch đảng viên và danh sách đảng viên của đảng bộ. Phiếu bổ sung hồ sơ đảng viên sẽ được chuyển lên cấp ủy cấp trên trực tiếp.
+ Cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng sẽ tiếp nhận phiếu bổ sung và thêm thông tin vào phiếu đảng viên, lý lịch đảng viên, danh sách đảng viên và cơ sở dữ liệu đảng viên. Phiếu bổ sung sẽ được lưu giữ cùng với hồ sơ đảng viên. Trong trường hợp cấp ủy cơ sở quản lý hồ sơ đảng viên, phiếu bổ sung sẽ được chuyển cho cấp ủy cơ sở.