Người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm là ai?

63
Người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm là

Giám đốc thẩm và tái thẩm là hai hình thức xem xét lại bản án, quyết định của tòa án theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan, đồng thời đảm bảo sự công bằng trong xét xử. Cả hai hình thức này đều nhằm bảo đảm sự công bằng và đúng đắn trong việc xét xử, bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia tố tụng. Khi đó, nhiều người băn khoăn không biết liệu theo quy định hiện nay, “Người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm là ai?”. Để được giải đáp băn khoăn này, mời bạn đọc cùng theo dõi bài viết dưới đây của Tìm Luật nhé.

Người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm là ai?

Giám đốc thẩm và tái thẩm có ý nghĩa quan trọng trong hệ thống tố tụng của pháp luật Việt Nam, vì chúng đảm bảo sự công bằng, chính xác và hợp lý trong việc xét xử các vụ án, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia tố tụng. Việc xét xử giám đốc thẩm nhằm đảm bảo rằng các bản án, quyết định được đưa ra dựa trên những căn cứ đúng đắn, hợp pháp. Khi có sai sót nghiêm trọng, giám đốc thẩm sẽ là công cụ để điều chỉnh, giúp bảo vệ sự ổn định của pháp luật.

Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.

Căn cứ Điều 373 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm gồm:

(1) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

(2) Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực.

(3) Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó.

Căn cứ Điều 400 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định những người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm gồm:

(i) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

(ii) Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực.

(iii) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm là
Người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm là

Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm

Giám đốc thẩm và tái thẩm là hai công cụ giúp bảo vệ sự công bằng, minh bạch trong hệ thống tố tụng. Giám đốc thẩm và tái thẩm tạo ra một cơ chế kiểm soát, sửa chữa sai phạm để tránh việc đưa ra những bản án, quyết định sai sót, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Những người bị xâm phạm quyền lợi hợp pháp có thể yêu cầu giám đốc thẩm hoặc tái thẩm để đòi lại công lý khi bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng có sai phạm nghiêm trọng.

(a) Căn cứ Điều 371 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ:

– Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

– Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án;

– Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

(b) Căn cứ Điều 398 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong các căn cứ:

– Có căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật;

– Có tình tiết mà Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm do không biết được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án;

– Vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật;

– Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.

Người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm là
Người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm là

Thủ tục kháng nghị giám đốc thẩm chỉ áp dụng đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực đúng không?

Giám đốc thẩm là việc xem xét lại bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng có sai sót nghiêm trọng về mặt pháp lý, có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật. Giám đốc thẩm giúp phát hiện và sửa chữa các sai sót nghiêm trọng trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà có thể gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các bên. Đây là cơ chế quan trọng để bảo vệ công lý khi có vi phạm nghiêm trọng trong quá trình xét xử mà các cấp tòa án khác không phát hiện kịp thời.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 326 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định như sau:

Căn cứ, điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

a) Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;

b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;

c) Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.

Như vậy, thủ tục kháng nghị giám đốc thẩm chỉ áp dụng đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực khi có một trong các căn cứ sau đây:

– Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;

– Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;

– Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.

Thông tin liên hệ

Trên đây là bài viết giải đáp thắc mắc về vấn đề ”Thời gian kháng cáo bản án phúc thẩm dân sự là bao lâu?”. Hy vọng bài viết có ích cho độc giả. Mọi thắc mắc, vướng mắc xin vui lòng gửi đến timluat để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời.

Câu hỏi thường gặp

Đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm phải có chữ ký của người đề nghị không?

Đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm phải có chữ ký của:
– Người đề nghị nếu người đề nghị là cá nhân (hoặc điểm chỉ);
– Người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức nếu người đề nghị là cơ quan, tổ chức và cơ quan, tổ chức đó phải đóng dấu vào phần cuối đơn.

Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là bao lâu?

Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm được quy định tại Điều 401 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:
– Tái thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được thực hiện trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hạn kháng nghị không được quá 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được tin báo về tình tiết mới được phát hiện.
– Tái thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án thì không hạn chế về thời gian và được thực hiện cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.
– Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

5/5 - (1 bình chọn)