Tại Việt Nam, Luật Quảng cáo được ban hành nhằm tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng, giúp bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, duy trì trật tự xã hội và đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Trong đó, những hành vi bị cấm trong quảng cáo là một nội dung quan trọng mà bất kỳ tổ chức, cá nhân nào tham gia hoạt động quảng cáo cũng cần hiểu rõ. Việc vi phạm các quy định này không chỉ ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp mà còn có thể dẫn đến các chế tài xử phạt nghiêm khắc từ cơ quan chức năng. Hiện nay, nhiều người băn khoăn không biết liệu theo quy định hiện nay, “Những điều cấm trong Luật quảng cáo được quy định thế nào?”. Nội dung này sẽ được bài viết bên dưới của Tìm Luật làm sáng tỏ nhé.
Những sản phẩm bị cấm quảng cáo
Quảng cáo là một trong những công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng và phát triển thương hiệu. Tuy nhiên, để đảm bảo tính minh bạch, trung thực và không gây ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội, pháp luật đã đặt ra những quy định nghiêm ngặt về nội dung và hình thức quảng cáo. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về những điều cấm trong Luật quảng cáo, nhằm giúp các tổ chức, cá nhân tuân thủ đúng quy định và tránh các vi phạm có thể dẫn đến chế tài xử phạt.
Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động quảng cáo được quy định tại Điều 8 Luật Quảng cáo 2012, cụ thể như sau:
(1) Quảng cáo những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sau:
+ Hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật.
+ Thuốc lá.
+ Rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên.
+ Sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi, sản phẩm dinh dưỡng bổ sung dùng cho trẻ dưới 06 tháng tuổi; bình bú và vú ngậm nhân tạo.
+ Thuốc kê đơn; thuốc không kê đơn nhưng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khuyến cáo hạn chế sử dụng hoặc sử dụng có sự giám sát của thầy thuốc.
+ Các loại sản phẩm, hàng hóa có tính chất kích dục.
+ Súng săn và đạn súng săn, vũ khí thể thao và các loại sản phẩm, hàng hóa có tính chất kích động bạo lực.
+ Các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cấm quảng cáo khác do Chính phủ quy định khi có phát sinh trên thực tế.
(2) Quảng cáo làm tiết lộ bí mật nhà nước, phương hại đến độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh, quốc phòng.
(3) Quảng cáo thiếu thẩm mỹ, trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam.
(4) Quảng cáo làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, trật tự an toàn giao thông, an toàn xã hội.
(5) Quảng cáo gây ảnh hưởng xấu đến sự tôn nghiêm đối với Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Đảng kỳ, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
(6) Quảng cáo có tính chất kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, định kiến về giới, về người khuyết tật.
(7) Quảng cáo xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân.
(8) Quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưa được cá nhân đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.
(9) Quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố.
(10) Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp về giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác.
(11) Quảng cáo có sử dụng các từ ngữ “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” hoặc từ ngữ có ý nghĩa tương tự mà không có tài liệu hợp pháp chứng minh theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
(12) Quảng cáo có nội dung cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.
(13) Quảng cáo vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ.
(14) Quảng cáo tạo cho trẻ em có suy nghĩ, lời nói, hành động trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục; gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, an toàn hoặc sự phát triển bình thường của trẻ em.
(15) Ép buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quảng cáo hoặc tiếp nhận quảng cáo trái ý muốn.
(16) Treo, đặt, dán, vẽ các sản phẩm quảng cáo trên cột điện, trụ điện, cột tín hiệu giao thông và cây xanh nơi công cộng.

Quyền và nghĩa vụ của người quảng cáo
Trong hoạt động quảng cáo, bên thực hiện quảng cáo không chỉ có quyền giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của mình đến khách hàng mà còn phải tuân thủ các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Luật Quảng cáo đặt ra những quyền lợi nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của người quảng cáo, đồng thời quy định rõ trách nhiệm để đảm bảo nội dung quảng cáo trung thực, minh bạch và không gây ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội.
Căn cứ Điều 12 Luật Quảng cáo 2012, người quảng cáo khi thực hiện hoạt động quảng cáo có các quyền, nghĩa vụ sau đây:
– Người quảng cáo có các quyền sau:
+ Quảng cáo về tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình;
+ Quyết định hình thức và phương thức quảng cáo;
+ Được cơ quan có thẩm quyền về quảng cáo của địa phương thông tin về quy hoạch quảng cáo ngoài trời đã phê duyệt;
+ Yêu cầu thẩm định sản phẩm quảng cáo.
– Người quảng cáo có các nghĩa vụ sau:
+ Cung cấp cho người kinh doanh dịch vụ quảng cáo hoặc người phát hành quảng cáo thông tin cần thiết, trung thực, chính xác về cơ quan, tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo và chịu trách nhiệm về các thông tin đó;
+ Bảo đảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nội dung quảng cáo;
+ Chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo của mình trong trường hợp trực tiếp thực hiện quảng cáo trên các phương tiện; liên đới chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo trong trường hợp thuê người khác thực hiện;
+ Cung cấp tài liệu liên quan đến sản phẩm quảng cáo khi người tiếp nhận quảng cáo hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
– Thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo
Ngành quảng cáo ngày càng phát triển, đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối doanh nghiệp với người tiêu dùng và thúc đẩy thị trường cạnh tranh lành mạnh. Những cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ quảng cáo không chỉ được hưởng các quyền lợi hợp pháp mà còn phải tuân thủ những nghĩa vụ nhất định để đảm bảo hoạt động quảng cáo diễn ra đúng quy định, minh bạch và không gây tác động tiêu cực đến xã hội.
Căn cứ Điều 13 Luật Quảng cáo 2012, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo có các quyền, nghĩa vụ sau đây:
– Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo có các quyền sau:
+ Quyết định hình thức và phương thức kinh doanh dịch vụ quảng cáo;
+ Được người quảng cáo cung cấp thông tin trung thực, chính xác về tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo và các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo;
+ Tham gia ý kiến trong quá trình xây dựng quy hoạch quảng cáo của địa phương và được cơ quan có thẩm quyền về quảng cáo của địa phương thông tin về quy hoạch quảng cáo ngoài trời;
+ Yêu cầu thẩm định sản phẩm quảng cáo.
– Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo có các nghĩa vụ sau:
+ Hoạt động theo đúng phạm vi, lĩnh vực đã được quy định trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và tuân thủ quy định của pháp luật về quảng cáo;
+ Kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo của tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cần quảng cáo và thực hiện thủ tục có liên quan theo hợp đồng dịch vụ quảng cáo;
+ Chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo do mình trực tiếp thực hiện;
+ Cung cấp tài liệu liên quan đến sản phẩm quảng cáo khi người tiếp nhận quảng cáo hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
– Thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Thông tin liên hệ
Trên đây là bài viết giải đáp thắc mắc về vấn đề ”Hành vi bị cấm trong quảng cáo”. Hy vọng bài viết có ích cho độc giả. Mọi thắc mắc, vướng mắc xin vui lòng gửi đến timluat để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời.
Câu hỏi thường gặp
Sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân để quảng cáo sản phẩm khi chưa được cá nhân đó đồng ý thì có được không?
Việc sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân để quảng cáo sản phẩm khi chưa được cá nhân đó đồng ý sẽ bị pháp luật nghiêm cấm.
Quảng cáo bột giặt so sánh trực tiếp độ tẩy sạch vết bẩn giữa sản phẩm của công ty mình và đối thủ cạnh tranh bị xử phạt như thế nào?
Quảng cáo bột giặt so sánh trực tiếp độ tẩy sạch vết bẩn giữa sản phẩm của công ty mình và đối thủ cạnh tranh được xem là hành vi quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp về giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác sẽ bị xử phạt từ 40-60 triệu đồng (điểm b khoản 4 Điều 34 Nghị định 38/2021/NĐ-CP). Lưu ý: Mức phạt tiền áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính do cá nhân thực hiện. Trường hợp hành vi vi phạm hành chính do tổ chức thực hiện thì phạt tiền gấp hai lần mức phạt tiền quy định đối với cá nhân (Điều 5 Nghị định 38/2021/NĐ-CP). Đồng thời, tước quyền sử dụng Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm từ 05 đến 07 tháng; tước quyền sử dụng Giấy xác nhận nội dung quảng cáo từ 22 tháng đến 24 tháng và buộc tháo gỡ, tháo dỡ, xóa quảng cáo hoặc thu hồi sản phẩm báo, tạp chí in quảng cáo.