Di chúc thừa kế là văn bản pháp lý do cá nhân lập ra để định rõ cách thức phân chia tài sản của mình sau khi qua đời. Di chúc có thể chỉ định ai sẽ nhận tài sản, tài sản nào sẽ được phân chia và các điều kiện kèm theo. Di chúc cần tuân thủ các quy định của pháp luật để được công nhận hiệu lực, và có thể được lập dưới nhiều hình thức khác nhau, như di chúc viết tay, di chúc công chứng hoặc di chúc miệng,… Hiện nay, nhiều người băn khoăn không biết liệu căn cứ theo quy định pháp luật hiện hành, “Có được lập di chúc thừa kế nhưng không được bán?“. Để được giải đáp, mời độc giả theo dõi bài viết dưới đây của Tìm Luật nhé.
Có được lập di chúc thừa kế nhưng không được bán?
Di chúc thừa kế không chỉ là công cụ pháp lý mà còn là một phương tiện để thể hiện ý nguyện và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Di chúc giúp bảo đảm rằng những người thừa kế mà người lập muốn hỗ trợ sẽ nhận được phần tài sản hợp lý. Ngoài ra, việc lập di chúc còn thể hiện sự chu đáo và trách nhiệm của người lập đối với gia đình và người thân, cho thấy họ đã suy nghĩ đến tương lai của những người mà họ yêu thương.
Đối chiếu với quyền của người lập di chúc thì sẽ có 02 trường hợp xảy ra như sau:
Đầu tiên, người lập di chúc chỉ định tài sản đó để thờ cúng. Căn cứ tại khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng thì:
Di sản dùng vào việc thờ cúng
1. Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.
Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng.
Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
Theo đó, di sản được dùng vào việc thờ cúng thì không được chia thừa kế nữa mà sẽ do người được chỉ định trong di chúc quản lý phần di sản đó. Như vậy, thì di sản dùng vào việc thờ cúng không thể mang đi mua bán.
Thứ hai, người lập di chúc để lại di sản và ghi nguyện vọng không cho bán thì việc “không cho bán” ở đây chỉ là nguyện vọng của người để lại di chúc mà không có quy định pháp lý nào ràng buộc đối với người thừa kế di sản.
Sau khi được thừa kế hợp pháp di sản thì người đó sẽ có quyền sở hữu đối với di sản mà mình được thừa kế. Mà căn cứ theo Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015 thì quyền sở hữu tài sản được quy định như sau:
Quyền sở hữu
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.
Tóm lại, nếu trường hợp bố anh để lại di chúc có ghi rõ rằng căn nhà đó dùng vào việc thờ cúng thì anh không thể bán căn nhà đó được. Nhưng nếu trong di chúc không phân định rõ căn nhà dùng vào mục đích thờ cúng thì anh vẫn có thể chuyển nhượng quyền sở hữu nếu anh là người thừa kế hợp pháp của tài sản đó. đăng ký đất đai hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có bất động sản.

Cha mẹ có được thay con chưa thành niên bán đất của con được thừa kế không?
Thừa kế có tầm quan trọng lớn đối với cá nhân, gia đình và xã hội, giúp đảm bảo rằng tài sản của người mất sẽ được chuyển giao cho những người thừa kế theo đúng ý nguyện của họ. Quyền thừa kế của trẻ chưa thành niên còn có thể cung cấp nguồn tài chính cho trẻ em, giúp họ duy trì cuộc sống và đáp ứng các nhu cầu cơ bản như giáo dục, sức khỏe. Cha mẹ có trách nhiệm quản lý tài sản thừa kế của con, giúp đảm bảo rằng tài sản không bị xâm phạm.
Căn cứ vào Điều 21 Bộ Luật Dân sự 2015 về năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi quy định như sau:
– Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.
– Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
– Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
– Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 75 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định rằng con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và thu nhập hợp pháp khác. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con cũng là tài sản riêng của con.
Việc định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên sẽ được quy định tại Điều 77 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, theo đó:
– Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
– Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ.
Như vậy, pháp luật Việt Nam quy định rằng dù con chưa thành niên hay thành niên đều có quyền có tài sản riêng, tài sản con được thừa kế riêng cũng là tài sản riêng của con. Tuy nhiên, việc định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên phải có sự tham gia của cha me, ngoại trừ các trường hợp con chưa thành niên có quyền tự định đoạt tài sản riêng của mình theo quy định.

Trong trường hợp của chị, con gái 12 tuổi được xem là chưa thành niên, chị sẽ có quyền định đoạt tài sản của con là mảnh đất được thừa kế, nhưng với điều kiện phải vì lợi ích của con. Trường hợp chị bán đất để lấy tiền chữa bệnh cho con có thể được xem xét là “vì lợi ích của con”.
Tuy nhiên, vẫn phải xem xét thêm nguyện vọng của con, nếu con đồng ý để chị bán đất của con thì con có thể lập văn bản ủy quyền cho chị, khi đó chị sẽ có thể bán mảnh đất đó.
Các trường hợp con không được hưởng thừa kế từ cha mẹ
Thừa kế không chỉ là việc chuyển giao tài sản mà còn là việc truyền đạt giá trị, truyền thống và văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Quyền thừa kế đi kèm với trách nhiệm quản lý tài sản. Điều này giúp các thừa kế hiểu rõ hơn về giá trị tài sản và cách sử dụng nó một cách có trách nhiệm. Tuy nhiên, trên thực tế, quyền thừa kế của con từ cha mẹ có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố pháp lý khác nhau, và việc xác định quyền thừa kế cần tuân thủ theo quy định của pháp luật hiện hành.
Con sẽ không được thừa kế các di sản từ cha mẹ nếu thuộc các trường hợp sau đây:
– Con không còn sống vào thời điểm thừa kế: Theo đó, người thừa kế phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự 2015.
– Con thuộc một trong 04 trường hợp quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp cha mẹ, người để lại di sản biết con có những hành vi nêu trên nhưng vẫn để lại di sản cho họ thì họ vẫn được hưởng di sản theo di chúc:
+ Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
+ Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
+ Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
+ Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
– Con bị truất quyền thừa kế: người để lại di sản truất quyền thừa kế ngay trong di chúc thì người thừa kế sẽ không được hưởng di sản thừa kế theo quy định tại khoản 1 Điều 626 Bộ luật dân sự 2015.
– Con không có tên trong di chúc thừa kế: nếu cha mẹ có di chúc nhưng trong di chúc không đề cập để lại tài sản cho con, người con sẽ không được hưởng thừa kế di sản.
Thông tin liên hệ
Trên đây là bài viết giải đáp thắc mắc về vấn đề ”Có được lập di chúc thừa kế nhưng không được bán?”. Hy vọng bài viết có ích cho độc giả. Mọi thắc mắc, vướng mắc xin vui lòng gửi đến timluat để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời.
Câu hỏi thường gặp
Các con có được bán tài sản thừa kế theo di chúc của mẹ để lại cho mình khi chưa có sự đồng ý của người bố không?
Theo quy định trên thì chủ thể có quyền bán tài sản là chủ sở hữu. Như vậy, nếu theo di chúc, tài sản mà người mẹ để lại chỉ định cho người con thì người có quyền bán tài sản thừa kế là người con, là chủ sở hữu tài sản thừa kế
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì về nguyên tắc khi người chết có có di chúc để lại tài sản cho ai thì người đó sẽ có quyền được xác lập quyền sở hữu với tài sản.
Tuy nhiên, với một số đối tượng thì ngay cả khi di chúc không chỉ định họ là người thừa kế, thì họ cũng vẫn được hưởng di sản thừa kế, pháp luật gọi những người này là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 thì vợ, chồng là những người thuộc đối tượng người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc; vì thế các con muốn bán tài sản thừa kế cần sự đồng của người bồ (đồng thừa kế).
Khi thực hiện chuyển nhượng quyền thừa kế thì cần điều kiện gì ?
Căn cứ theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai 2013, Người sử dụng đất sẽ được thực hiện các quyền bao gồm: chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
– Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật Đất đai;
– Quyền sử dụng đất không có tranh chấp;
– Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
– Còn trong thời hạn sử dụng đất.