Điện thoại di động không chỉ là phương tiện liên lạc mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc lưu trữ thông tin cá nhân, dữ liệu nhạy cảm và các giao dịch trực tuyến. Sự phát triển của công nghệ mang lại nhiều tiện ích nhưng cũng kéo theo những nguy cơ tiềm ẩn, đặc biệt là việc bị xâm phạm quyền riêng tư mà không hề hay biết. Tình trạng nghe lén, theo dõi vị trí, đánh cắp dữ liệu cá nhân hoặc tự ý truy cập thông tin trên điện thoại của người khác đang diễn ra ngày càng phổ biến. Hiện nay, nhiều người băn khoăn không biết liệu theo quy định hiện nay, “Xâm phạm quyền riêng tư trên điện thoại xử phạt thế nào?”. Tìm Luật sẽ giúp bạn đọc làm sáng tỏ những vấn đề này nhé.
Quyền riêng tư là gì?
Trong cuộc sống hiện đại, quyền riêng tư ngày càng trở thành một vấn đề được quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ. Quyền riêng tư không chỉ đơn thuần là quyền được giữ bí mật thông tin cá nhân mà còn bao gồm quyền kiểm soát dữ liệu, thông tin cá nhân và đời sống riêng tư của mỗi cá nhân trước sự xâm phạm từ bên ngoài. Khi thông tin cá nhân bị thu thập, theo dõi hoặc sử dụng trái phép, hậu quả có thể rất nghiêm trọng, từ mất an toàn cá nhân đến những rủi ro về tài chính, danh tiếng và thậm chí là quyền tự do cá nhân.
Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013.
Theo Điều 21 Hiến pháp 2013 công nhận:
“ 1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.
Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn.
- Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.
Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.”
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Dân sự 2015 thì quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mất gia đình cũng là một trong những quyền nhân thân quan trọng. Cụ thể:
“Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ ”.
Xâm phạm quyền riêng tư trên điện thoại xử phạt thế nào?
Đi cùng với sự phát triển của công nghệ là nguy cơ quyền riêng tư bị xâm phạm ngày càng gia tăng. Từ việc nghe lén cuộc gọi, đọc trộm tin nhắn đến theo dõi vị trí hay đánh cắp dữ liệu cá nhân, nhiều hành vi vi phạm đang diễn ra phổ biến mà không phải ai cũng nhận thức được mức độ nghiêm trọng của chúng. Những hành vi xâm phạm này không chỉ gây ảnh hưởng đến đời sống riêng tư của cá nhân mà còn có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng hơn, như bị lợi dụng để thực hiện hành vi lừa đảo, tống tiền hoặc gây tổn hại danh dự.
Căn cứ vào quy định của pháp luật, người xâm phạm quyền riêng tư của người khác, tuỳ vào từng tính chất, mức độ vi phạm cũng như hậu quả và đối tượng bị xâm phạm mà người vi phạm sẽ chịu các hình thức xử phạt khác nhau.
Mức phạt khi xâm phạm hình ảnh cá nhân:

– Phạt tiền từ 03 – 05 triệu đồng đối với hành vi dùng ảnh trẻ dưới 07 tuổi để minh hoạ trên xuất bản phẩm mà không được đồng ý (theo điểm c khoản 2 Điều 25 Nghị định 119/2020/NĐ-CP)
Phạt tiền từ 20 – 40 triệu đồng đối với hành vi dùng ảnh cá nhân để quảng cáo mà không được phép (theo điểm b khoản 3 Điều 34 Nghị định 38/2021/NĐ-CP).
– Phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng đối với hành vi dùng ảnh người khác trên mạng xã hội mà không được cho phép (theo điểm e khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP).
Mức phạt danh dự, nhân phẩm, uy tín:
– Phạt tiền từ 02 – 03 triệu đồng đối với hành vi khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác (căn cứ điểm a khoản 3 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP);
– Phạt tiền từ 05 – 20 triệu đồng đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình (Điều 54 Nghị định 144/2021/NĐ-CP).
– Phạt tiền từ 20 – 30 triệu đồng đối với hành vi đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín, danh dự và nhân phẩm cá nhân trên môi trường mạng (theo điểm a khoản 3 Điều 99 Nghị định 15/2020/NĐ-CP).
Mức phạt khi thư tín, điện tín của cá nhân bị xâm phạm:
Phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng đối với hành vi phát tán tư liệu, tài liệu là bí mật đời tư thông qua việc xâm phạm điện tín, thư tín của người khác nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người đó (theo Điều 54 Nghị định 144/2021/NĐ-CP).oặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác nêu trên.
Xâm phạm quyền riêng tư của người khác bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Trong một xã hội ngày càng kết nối, thông tin cá nhân trở thành tài sản vô hình nhưng vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, không ít người vì tò mò, vụ lợi hay thậm chí chỉ để thỏa mãn sự hiếu kỳ mà tự ý xâm nhập vào đời sống riêng tư của người khác. Nhưng liệu những hành vi xâm phạm quyền riêng tư này có chỉ dừng lại ở mức vi phạm đạo đức hay có thể bị xử lý theo pháp luật, thậm chí là truy cứu trách nhiệm hình sự? Hãy cùng tìm hiểu những quy định pháp lý liên quan để biết rõ hơn về mức độ xử lý đối với hành vi xâm phạm quyền riêng tư trong bài viết dưới đây.
Theo Điều 159 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác như sau:
Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;
b) Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;
c) Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;
d) Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;
đ) Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác;
đ) Làm nạn nhân tự sát.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Theo đó, việc xâm phạm quyền riêng tư của người khác có thể truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo hành vi cụ thể, có thể phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.
Thông tin liên hệ
Trên đây là bài viết giải đáp thắc mắc về vấn đề ”Xâm phạm quyền riêng tư trên điện thoại”. Hy vọng bài viết có ích cho độc giả. Mọi thắc mắc, vướng mắc xin vui lòng gửi đến timluat để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời.
Câu hỏi thường gặp
Cha mẹ có quyền lén đọc tin nhắn của con không?
Trẻ em hay bất kỳ công dân nào của Việt Nam đều có quyền được bảo vệ bí mật thư tín, điện thoại, điện tín. Do đó, dù là cha mẹ thì cũng không được quyền lục soát điện thoại, lén đọc tin nhắn của con khi chưa được con cho phép.
Trên thực tế, vì muốn bảo vệ con, muốn giáo dục con cũng như kịp thời ngăn cản con bị dụ dỗ, sa vào các tệ nạn xã hội, các bậc phụ huynh thường chọn cách “kiểm soát” chặt điện thoại, tin nhắn của con.
Tuy nhiên, nhiều bậc phụ huynh không biết rằng, đây là hành vi vi phạm pháp luật và tạo nên tổn thương về mặt tinh thần cho con trẻ.
Cha mẹ lén đọc tin nhắn, điện thoại của con bị phạt thế nào?
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 54 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, nếu tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mất đời tư của thành viên trong gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm người đó thì sẽ bị phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng.
Do đó, nếu cha mẹ đọc trộm tin nhắn, kiểm tra điện thoại của con và tung lên mạng xã hội hoặc tiết lộ cho người khác biết nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con thì mới bị xử phạt hành chính. Các trường hợp còn lại thì không bị phạt tiền theo quy định trên.