Hành vi đòi nợ trái pháp luật có bị đi tù không?

155
Hành vi đòi nợ trái pháp luật có bị đi tù không

Hiện nay, không hiếm những vụ án mà chủ nợ, người nợ tiền đều là bị cáo, để lại nhiều trăn trở, băn khoăn cho người tiến hành tố tụng, luật sư và dư luận. Theo đánh giá hiện nay của cơ quan công tố về pháp luật hình sự và pháp luật hiện hành, những vụ việc người đòi nợ bị truy tố vẫn thường xuyên xảy ra bởi chủ nợ thường sử dụng hành vi đòi nợ trái pháp luật. Vậy Hành vi đòi nợ trái pháp luật có bị đi tù không? Hành vi đòi nợ trái pháp luật đi tù bao nhiêu năm? Cùng theo dõi bài viết dưới đây của Tìm luật để hiểu rõ hơn vấn đề này nhé!

Hành vi đòi nợ trái pháp luật là gì?

Trên thực tế, vì nóng giận, vội vàng nên nhiều chủ nợ quá muốn đòi nợ nhanh nên đã dùng đến những hành động tiêu cực. Một số hành vi phổ biến như dùng vũ lực hoặc thuê người khác đi đòi nợ; phun sơn, đập phá nhà cửa, đập phá tài sản của con nợ; tùy tiện lấy tài sản của người mắc nợ để trả nợ; tung hình ảnh, thông tin của con nợ lên mạng xã hội, ảnh ghép, đăng ảnh nhạy cảm của họ để buộc họ phải trả nợ… Những hành động tiêu cực này đã gây tổn hại trực tiếp đến sức khỏe, danh dự của con nợ. nhân phẩm, uy tín của người mắc nợ – là đối tượng được pháp luật bảo vệ.

Những hành vi đòi nợ như trên là trái pháp luật, sẽ dự vào tùy mức độ có thể bị xử phạt hành chính. Trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội như cố ý gây thương tích (Điều 134 BLHS), làm nhục người khác (Điều 155 BLHS), bắt giữ người trái pháp luật (Điều 157 BLHS)…

Hành vi đòi nợ trái pháp luật có bị đi tù không?

Những hành vi đòi nợ trái pháp luật có thể bị phạt tiền hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Tùy vào hành vi và hậu quả khác nhau thì mức phạt khác nhau. Những hình phạt nghiêm khắc này nhằm bảo đảm trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người dân. Việc xử lý, trừng trị hành vi hăm dọa, hăm dọa trong việc đòi nợ là cần thiết để đảm bảo an toàn và công bằng cho xã hội.

Hành vi dùng vũ lực, đe dọa để đòi nợ

Hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội:

  • Tội đe dọa giết người theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật Hình sự, với khung hình phạt cao nhất là 7 năm tù.
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015, với khung hình phạt cao nhất là tù chung thân.

Xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác

Theo Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (được thay thế bởi điểm e khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) quy định:

– Hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác sẽ bị cấu thành tội làm nhục người khác.

– Mức xử phạt: bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm

– Tội làm nhục người khác trong các trường hợp sau đây bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm :

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Đối với 02 người trở lên;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Đối với người đang thi hành công vụ;

+ Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

+ Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

+ Làm nạn nhân tự sát.

Như vậy, xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác có thể bị cấu thành tội làm nhục người khác, tùy theo mức độ nghiệm trọng sẽ bị xử phạt đến 05 năm tù giam.

Hành vi đòi nợ trái pháp luật có bị đi tù không

Bịa đặt hoặc loan truyền tin sai sự thật

Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu khống.

– Mức phạt đối với hành vi vu khống người khác: bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

+ Có tổ chức;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Đối với 02 người trở lên;

+ Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

+ Đối với người đang thi hành công vụ;

+ Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

+ Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

+ Vì động cơ đê hèn;

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

+ Làm nạn nhân tự sát.

– Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, đối với hành vi gọi điện, nhắn tin hoặc khủng bố nhằm chỉ trích người khác chiếm đoạt tài sản có thể bị truy cứu về tội vu khống.

Vấn đề “Hành vi đòi nợ trái pháp luật có bị đi tù không?” đã được Tìm luật giải đáp thắc mắc ở bên trên. Chúng tôi sẽ giải đáp mọi thắc mắc của quý khách hàng liên quan tới điều kiện tạm hoãn nghĩa vụ quân sự . Hy vọng kiến thức trên có thể giúp ích cho bạn trong cuộc sống.

Câu hỏi thường gặp

Đòi nợ như thế nào là đúng cách?

Để không vi phạm pháp luật các chủ nợ đầu tiên cần bình tĩnh và có biện pháp thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Khi con nợ quá hạn thanh toán hoặc không chủ động trả nợ, chủ nợ nên chủ động liên hệ, thương lượng với con nợ và đạt được thỏa thuận thiện chí về phương thức và thời hạn thanh toán. Chủ nợ thậm chí có thể cân nhắc hỗ trợ khó khăn cho con nợ bằng cách giảm lãi vay (nếu có) nếu thấy cần thiết. Nếu vẫn không đạt được thỏa thuận, chủ nợ cần chuyển vụ việc lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết, tránh sử dụng phương thức thuê mướn, yêu cầu các đối tượng hoặc côn đồ không có chức năng đòi nợ vì dễ gây ra những hậu quả pháp lý không đáng có. Ngoài ra, chủ nợ cũng có thể khởi kiện ra tòa án yêu cầu người đi vay phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đây là một cách đòi nợ hợp pháp.

Ép buộc người khác trả một khoản nợ khống bị tội gì?

Ép buộc người khác trả một khoản nợ khống là dấu hiệu cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”
Theo Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” như sau:
Cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản.
Hành vi này có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Hành vi Cưỡng đoạt tài sản bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm trong trường hợp phạm tội:
Có tổ chức;
Có tính chất chuyên nghiệp;
Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
Hành vi Cưỡng đoạt tài sản bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm trong trường hợp phạm tội:
Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để phạm tội
Hành vi cưỡng đoạt tài sản bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm
Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Tại Điều 15 Bộ Luật Hình sự 2015 về phạm tội chưa đạt
Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.
Như vậy, hành vi đe dọa ép buộc người khác trả một khoản nợ (không phải của mình) có thể cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản với mức phạt lên đến 20 năm tù.

5/5 - (1 bình chọn)