Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 1 tỷ bị xử lý như thế nào?

44
lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 1 tỷ

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trị giá trên 1 tỷ là một trong những hành vi phạm pháp nghiêm trọng, gây nhiều hậu quả nặng nề cho cá nhân và xã hội. Trước tình hình ngày càng phức tạp của tội phạm kinh tế, hệ thống pháp luật đang không ngừng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý. Vậy “Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 1 tỷ bị xử lý như thế nào?” có nội dung như thế nào? Hãy cùng Tìm Luật tìm hiểu qua bài viết sau đây nhé! Hy vọng bài viết này sẽ thực sự mang lại cho bạn những kiến thức hữu ích nhất để bạn có thể vận dụng vào trong cuộc sống.

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 1 tỷ bị xử phạt như thế nào?

Lừa đảo chiếm tài sản là hành vi mà là người sử dụng những thủ đoạn gian dối như: nói dối, làm giả giấy tờ, giả danh cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức, nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Người thực hiện hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Như vậy, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trị giá trên 1 tỷ có thể bị xử lý hình sự với mức phạt tù từ 12 năm hoặc án tù chung thân. Ngoài ra, người phạm tội cũng có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 VNĐ đến 100.000.000 VNĐ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong thời gian từ 1 năm đến 5 năm, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản của họ theo quy định tại khoản 5 của Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi và bổ sung năm 2017.

Dấu hiệu pháp lý về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 1 tỷ

Khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản. Tài sản được nêu bao gồm vật, tiền, giấy tờ quan trọng và quyền đối với tài sản (gói gọn là tài sản hữu hình và tài sản vô hình). Theo Khoản 1 Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 quy định về tài sản như sau: 

“Điều 105. Tài sản

1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.”

Như vậy, đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trị giá trên 1 tỷ VNĐ bao gồm tiền bạc, các vật phẩm có giá trị, giấy tờ quan trọng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cổ phần, cổ phiếu, tài sản trí tuệ và nhiều tài sản khác có giá trị vượt qua mức 1 tỷ VNĐ. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu thể hiện ở hành vi chiếm hữu tài sản của người khác bằng cách gian dối để có được.

Khác với các tội có tính chiếm đoạt khác, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt. Bởi vì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không xâm hại đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu.

Mặt khách quan:

Hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm việc chiếm đoạt tài sản trị giá trên 1 tỷ bằng cách sử dụng các thủ đoạn gian dối. Người phạm tội thực hiện các hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, và điều này thể hiện rõ trong hành vi khách quan của tội phạm.

Thủ đoạn gian dối có thể được thể hiện thông qua nhiều hành vi và phương pháp khác nhau, nhằm lừa dối chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản để họ tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội.

Hậu quả của tội này căn cứ vào mức độ thiệt hại của tài sản để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

Trường hợp người phạm tội thực hiện xong hành vi phạm tội của mình nhưng không chiếm đoạt được tài sản, thiệt hại về tài sản không xảy ra thì vẫn có thể bị coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt.

Chủ thể của tội phạm:

Là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự: Không bị mắc các bệnh về trí tuệ, thiểu năng trí tuệ, thần kinh, hạn chế năng lực nhận thức,…

Đủ 16 tuổi trở lên

Mặt chủ quan:

Yếu tố lỗi: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Tức là, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả do hành vi của mình gây ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra.

Mục đích: Mong muốn chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi.

Vấn đề “Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 1 tỷ bị xử lý như thế nào?” đã được Tìm Luật giải đáp thắc mắc ở bên trên. Với các chuyên viên tay nghề, kinh nghiệm cao, chúng tôi sẽ giải đáp mọi thắc mắc của quý khách hàng liên quan hoặc các thông tin pháp lý khác một cách chuẩn xác. Chúng tôi sẽ giúp quý khách giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm chi phí. Vui lòng vào trang Tìm Luật để biết thêm các thông tin chi tiết. 

Câu hỏi thường gặp

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì?

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi chuyển dịch, đoạt lấy, chiếm lấy tài sản của người khác trái pháp luật, để nắm giữ, quản lý, sử dụng, định đoạt bằng cách dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội. 
Để nhận biết được loại tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chúng ta cần dựa vào 4 yếu tố cấu thành tội phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo có thể được hưởng khi phạm tội tại Điều 174 Bộ luật hình sự lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 1 tỷ?

Điều 51 Bộ luật hình sự có quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo đó, khi bị cáo có một trong các tình tiết được quy định tại khoản 1 Điều 51 thì Hội đồng xét xử có thể xem xét cho giảm nhẹ trách nhiệm. Cụ thể:
Các tình tiết các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;      
b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
m) Phạm tội do lạc hậu;
n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;
o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
r) Người phạm tội tự thú;
s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;
u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
x) Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự về việc áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thì:
Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.
Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.
Vì vậy, bị cáo có thể được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong trường hợp có tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 hoặc trong trường hợp có từ hai tình tiết giảm nhẹ thì bị cáo còn có thể được áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

5/5 - (1 bình chọn)