Việc cho vay và quản lý ngoại tệ có những quy định cụ thể, bao gồm các tiêu chí, hạn mức, và điều kiện vay để đảm bảo rằng việc sử dụng ngoại tệ trong các giao dịch tài chính được thực hiện một cách có trật tự và hiệu quả. Quy định này thường được điều chỉnh và kiểm soát chặt chẽ để đáp ứng với các yếu tố biến động trong nền kinh tế và tài chính quốc tế.
Việc quy định về cho vay ngoại tệ giúp định rõ phạm vi và điều kiện vay cũng như quản lý rủi ro đối với bên cho vay hàng và bên vay. Hãy cùng Tìm luật tìm hiểu về “Quy định về cho vay ngoại tệ như thế nào?” trong bài viết dưới đây.

Quy định cho vay ngoại tệ mới nhất?
Tính đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam, pháp luật cho phép việc vay vốn bằng ngoại tệ theo quy định của Thông tư Số 06/VBHN-NHNN. Thông tư này quy định cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng là người cư trú, quy định một số nội dung về cho vay vốn như sau:
Theo Điều 3 Thông tư Số 06/VBHN-NHNN quy định:
“1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xem xét quyết định cho vay bằng ngoại tệ đối với các nhu cầu vốn như sau:
a) Cho vay ngắn hạn để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa để phục vụ nhu cầu trong nước khi khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu sản xuất, kinh doanh để trả nợ vay. Quy định này thực hiện đến hết ngày 31 tháng 3 năm 2019;
b) Cho vay ngắn hạn để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam khi khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu sản xuất, kinh doanh để trả nợ vay;
c) Cho vay trung hạn và dài hạn để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ khi khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu sản xuất, kinh doanh để trả nợ vay. Quy định này thực hiện đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2019;
d) Cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu được Bộ Công Thương giao hạn mức nhập khẩu xăng dầu hàng năm để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu xăng dầu khi doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu không có hoặc không có đủ nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động sản xuất, kinh doanh để trả nợ vay;
đ) Cho vay ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầu vốn ở trong nước nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam mà khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để trả nợ vay. Khi được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài giải ngân vốn cho vay, khách hàng vay phải bán số ngoại tệ vay đó cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho vay theo hình thức giao dịch hối đoái giao ngay, trừ trường hợp nhu cầu vay vốn của khách hàng để thực hiện giao dịch thanh toán mà pháp luật quy định đồng tiền thanh toán phải bằng ngoại tệ;
e) Cho vay để đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án đầu tư được Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài và đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.
2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài xem xét quyết định cho vay bằng ngoại tệ đối với các nhu cầu vốn ngoài quy định tại khoản 1 Điều này thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh theo quy định tại các Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị và các văn bản khác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sau khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận bằng văn bản theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 4 Thông tư này đối với từng trường hợp cụ thể.”
Như vậy, các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá và quyết định việc cấp vốn bằng ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn và trung hạn, như việc hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư ra nước ngoài, cùng các trường hợp khác được quy định. Việc cấp vốn bằng ngoại tệ phải tuân thủ theo quy định của pháp luật và thực hiện các thủ tục, trình tự theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Theo đó, việc vay vốn với mục đích khác nhau phải được ngân hàng nhà nước chấp thuận, đồng thời tuân thủ các nghĩa vụ với ngân hàng nhà nước Việt Nam, bao gồm số vốn được vay và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Việc cho vay vốn bằng ngoại tệ được quy định nhằm tạo điều kiện cho việc phát triển nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh ra nước ngoài và các nhu cầu vốn khác theo quy định.
Các nhu cầu vay ngắn hạn để thanh toán tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, phục vụ sản xuất và kinh doanh xuất khẩu thông qua cửa khẩu biên giới Việt Nam đều được khuyến khích và tạo điều kiện bởi nhà nước. Việc này thúc đẩy sự thịnh vượng kinh tế, tạo đà phát triển hợp tác kinh tế với các quốc gia khác và góp phần phát triển nền kinh tế hội nhập.
Mời bạn xem thêm: tra cứu giấy phép lái xe theo cccd

Trình tự, thủ tục chấp thuận cho vay bằng ngoại tệ
Các tổ chức tín dụng cần đánh giá kỹ lưỡng về khả năng trả nợ của khách hàng cũng như xác định rủi ro để bảo đảm tính ổn định của hệ thống tài chính. Thủ tục này yêu cầu rõ ràng trong từng bước, từ việc thu thập thông tin cá nhân, tài sản thế chấp cho đến quá trình xét duyệt và phê duyệt vay vốn theo quy định của ngân hàng và cơ quan quản lý tài chính.
Tại Khoản 2 Điều 4 Thông tư 24/2015/TT-NHNN quy định cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành, có quy định trình tự, thủ tục chấp thuận cho vay bằng ngoại tệ như sau:
“Điều 4. Trình tự, thủ tục chấp thuận cho vay vốn bằng ngoại tệ
2. Trình tự, thủ tục chấp thuận cho vay bằng ngoại tệ:
a) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài gửi trực tiếp hoặc bằng đường bưu điện văn bản đề nghị chấp thuận cho vay bằng ngoại tệ đến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Vụ Chính sách tiền tệ);
b) Căn cứ quy định tại các Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị và các văn bản khác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về các lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh, diễn biến thị trường ngoại hối, mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, các quy định tại Thông tư này và nội dung văn bản đề nghị của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét chấp thuận việc cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
c) Trong thời hạn tối đa 30 ngày (ba mươi) làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị chấp thuận cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có đầy đủ thông tin theo quy định tại khoản 1 Điều này Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gửi văn bản thông báo chấp thuận hoặc từ chối chấp thuận việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho vay bằng ngoại tệ, trong đó nêu rõ lý do từ chối.”
Thông tin liên hệ
Tìm Luật đã cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến vấn đề “Quy định về cho vay ngoại tệ như thế nào?” Ngoài ra, chúng tôi có hỗ trợ khác thông tin pháp lý khác liên quan như là: các tin tức, mẫu đơn pháp lý chuẩn xác, cập nhật mới nhất theo quy định pháp luật. Hy vọng bài viết có ích cho độc giả, vui lòng cập nhật trang web để nắm bắt được thông tin, tình hình pháp lý mới nhất phục vụ cho các vấn đề trong cuộc sống.
Câu hỏi thường gặp
Có được cho vay bằng ngoại tệ không?
Mặc dù hiện nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có những quy định cụ thể về việc thực hiện các hoạt động cho vay bằng ngoại tệ tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo nội dung của Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH ngày 11 tháng 7 năm 2013 của Văn phòng Quốc hội hợp nhất Pháp lệnh Ngoại hối 2005, sửa đổi bổ sung 2013 thì tại quy định của Điều 22, Văn bản hợp nhất 07/VBHN-VPQH ghi nhận rằng trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Mặt khác, tại các quy định tại Chương 5 của Văn bản hợp nhất 07/VBHN-VPQH quy định về thị trường tiền tệ Việt Nam thì tại Khoản 1, Điều 27 của Văn bản hợp nhất 07/VBHN-VPQH thành viên tham gia thị trường ngoại tệ liên ngân hàng bao gồm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và tổ chức tín dụng được cấp phép bởi Ngân hàng Nhà nước.
Như vậy, tất cả các tổ chức, cá nhân cư trú hay không cư trú tại Việt Nam đều không được coi là thành viên của thị trường ngoại tệ Việt Nam, nói cách khác thì mọi giao dịch bằng tiền ngoại tê (kể cả hoạt động cho vay) đều không được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam.
Các nhu cầu cho vay vốn ngoại tệ là gì?
Nhà nước chủ trương chuyển dần quan hệ huy động – cho vay ngoại tệ sang quan hệ mua – bán ngoại tệ. Do đó, từ năm 2019 việc cho vay ngoại tệ chỉ được thực hiện trong bốn trường hợp sau (Điều 3 Thông tư 24/2015/TT-NHNN sửa đổi bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Thông tư 42/2018/TT-NHNN)
Thứ nhất, cho vay ngắn hạn để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới, với điều kiện khách hàng vay phải có đủ ngoại tệ từ nguồn thu từ sản xuất, kinh doanh để trả nợ vay;
Thứ hai, cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu được Bộ Công Thương giao hạn mức nhập khẩu để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu xăng dầu;
Thứ ba, cho vay ngắn hạn để thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới, với điều kiện khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để trả nợ vay. Trong trường hợp này, khách hàng vay phải bán lại số ngoại tệ vay đó theo hình thức giao dịch hối đoái giao ngay, trừ trường hợp nhu cầu vay vốn của khách hàng để thực hiện giao dịch thanh toán mà pháp luật quy định đồng tiền thanh toán phải bằng ngoại tệ;
Thứ tư, cho vay đối với các nhu cầu vốn ngoài các quy định trên thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh theo quy định tại các nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận đối với từng trường hợp cụ thể.