Những tội được bãi nại hiện nay là gì?

115
những tội được bãi nại

Hiện nay, có một số tội phạm được bãi nại trong quá trình xử lý pháp luật. Điều này thường xảy ra khi người bị hại hoặc người đại diện của họ quyết định rút lại yêu cầu khởi tố hoặc bãi nại vụ án. Việc bãi nại có thể làm thay đổi quá trình xét xử và kết quả cuối cùng của vụ án, đặc biệt khi nó được thực hiện dựa trên sự tự nguyện của người bị hại hoặc người đại diện của họ. Hãy cùng Tìm luật tìm hiểu về những tội được bãi nại hiện nay trong bài viết dưới đây.

những tội được bãi nại

Những tội được bãi nại theo quy định hiện hành 

Quy định chi tiết về việc bãi nại trong các vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện đóng vai trò quan trọng trong quá trình pháp lý. Chỉ khi người bị hại hoặc người đại diện của họ đệ đơn bãi nại, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới xem xét đình chỉ vụ án. Điều quan trọng là đơn bãi nại phải được làm hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc hay cưỡng chế.

Điều này đảm bảo rằng quyết định bãi nại của người bị hại hoặc người đại diện của họ được đưa ra dựa trên ý muốn và quyền tự do của họ. Cơ quan Nhà nước chỉ xem xét và đồng ý với đơn bãi nại khi nó được thực hiện theo ý nguyện tự do của người bị hại hoặc người đại diện.

Theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì các tội được bãi nại bao gồm:

“Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.”

Cụ thể:

– Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015):

Cố ý gây thương tích là một trong những hành vi mà luật pháp coi là đáng ngại, khi cố ý gây tổn thương đến thân thể và sức khỏe của người khác thông qua việc tạo ra những tổn thương đáng kể. Hành vi này không chỉ làm tổn thương tới quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của mỗi người trong xã hội mà gây nguy hiểm cho xã hội. Người phạm tội có thể phải chịu án phạt từ cải tạo không giam giữ trong vòng 03 năm và có những trường hợp nghiêm trọng nhất có thể phải đối diện với án phạt tù giam lên đến 20 năm.

– Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần kích động mạnh (Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 2015):

Cố ý gây thương tích hoặc làm tổn hại cho sức khỏe người khác trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là một hành vi đáng lên án. Đây là hành vi có ý định hoặc cố tình gây tổn thương hoặc gây hại cho người khác thông qua việc thực hiện hành vi vi phạm nghiêm trọng đối với nạn nhân hoặc những người thân của họ trong khi họ đang trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh.

Quy định hình phạt cho hành vi này thường được xác định tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hậu quả gây ra, có thể là xử phạt hành chính lên đến 50 triệu đồng hoặc chịu trách nhiệm hình sự với án tù giam tối đa là 03 năm.

– Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 2015):

Trong trường hợp cố ý gây thương tích với mục đích tự bảo vệ, nhưng lại vượt quá phạm vi phòng vệ cho phép, vẫn có thể bị xử lý hình sự. Ngoài ra, theo quy định của luật dân sự thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra. Người vi phạm có thể phải đối mặt với xử phạt hành chính lên đến 20 triệu đồng hoặc hình phạt tù cao nhất là 03 năm, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi.

 – Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015):

Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể được hiểu là hành vi thiếu cẩn thận hoặc do sự tự tin quá mức, dẫn đến hậu quả làm người khác bị thương tích hoặc gặp tổn hại về sức khỏe. Hành vi này vi phạm đến quyền được bảo vệ sức khỏe của người khác và đang được pháp luật chú trọng bảo vệ. Bởi vậy, người phạm tội này sẽ phải chịu hình phạt lên đến 20 triệu đồng hoặc chịu trách nhiệm hình sự với mức cao nhất lên đến 03 năm tùy vào mức độ nghiêm trọng.

– Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 2015):

Hành vi vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể được hiểu là việc thực hiện các quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính một cách cẩu thả hoặc do sự tự tin quá mức, dẫn đến hậu quả làm người khác gặp thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe. Hành vi này bao gồm vi phạm các nguyên tắc và quy định về nghề nghiệp và hành chính, và có thể gây tổn thương đáng kể đến người khác. Do vậy, người nào vi phạm sẽ bị xử phạt đến 100 triệu đồng hoặc phạt tù cao nhất lên đến 05 năm tùy mức độ nghiêm trọng

– Tội hiếp dâm (Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015):

Tội hiếp dâm được hiểu là hành vi của một người sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng mà nạn nhân không thể tự vệ được để thực hiện hành vi quan hệ tình dục hoặc các hành vi tình dục khác mà không đúng với ý muốn của nạn nhân sẽ bị tù nhẹ nhất là 02 năm và nặng nhất là 20 năm tù tùy vào mức độ nghiêm trọng

– Tội cưỡng dâm (Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015):

Cưỡng dâm là hành vi sử dụng mọi biện pháp để ép buộc người khác, người đang trong tình trạng không thể tự bảo vệ, phải thực hiện quan hệ tình dục hoặc các hành vi tình dục khác một cách miễn cưỡng. Theo đó, hành vi này có thể bị xử phạt nhẹ nhất là 01 năm tù và nặng nhất lên tới 18 năm tù giam tùy vào mức độ nguy hiểm.

– Tội làm nhục người khác (Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015):

Làm nhục người khác là một hành vi đáng lên án, gây tổn thương đến phẩm chất và danh dự của con người. Người vi phạm phải có hành vi (qua lời nói hoặc hành động) một cách nghiêm trọng xúc phạm phẩm chất và danh dự của người khác, như lăng mạ, chửi rủa tàn nhẫn, cạo đầu, cắt tóc, hay lột quần áo trước mặt đám đông, … Người nào cố tình vi phạm sẽ bị xử phạt đến 30 triệu đồng hoặc tùy theo mức độ nguy hiểm khung hình phạt cao nhất lên đến 05 năm tù giam

 – Tội vu khống (Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015):

Vu khống được định nghĩa cụ thể trong Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi năm 2017 là hành vi tạo ra hoặc truyền bá những thông tin không đúng sự thật, nhằm xúc phạm phẩm chất và danh dự của người khác hoặc gây thiệt hại đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người khác. Theo đó, người có hành vi vu khống người khác sẽ bị phạt hành chính đến 50 triệu đồng hoặc phạt tù cao nhất là 05 năm.

– Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015):

Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là những hành vi vi phạm trái phép đối với quyền và lợi ích của chủ sở hữu đối với các phát minh, thiết kế công nghiệp, bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh mà họ đã sáng tạo hoặc sở hữu, cũng như quyền chống đối đối thủ cạnh tranh không lành mạnh. Tùy thuộc vào từng mức độ vi phạm mà có thể bị xử phạt đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù lên đến 05 năm.

Mời bạn xem thêm: mẫu sơ yếu lý lịch 2023

những tội được bãi nại

Vấn đề “Những tội được bãi nại hiện nay là gì?” đã được Tìm Luật giải đáp thắc mắc ở bên trên. Với các chuyên viên tay nghề, kinh nghiệm cao, chúng tôi sẽ giải đáp mọi thắc mắc của quý khách hàng liên quan hoặc các thông tin pháp lý khác một cách chuẩn xác. Chúng tôi sẽ giúp quý khách giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm chi phí. Vui lòng vào trang Tìm Luật để biết thêm các thông tin chi tiết.

Câu hỏi thường gặp

Bị hại gửi đơn bãi nại sẽ hình thành hậu quả pháp lý như thế nào?

Quy trình pháp lý liên quan đến đơn bãi nại của người bị hại có thể tạo ra các hệ quả pháp lý sau:
– Quyết định đình chỉ vụ án hình sự: Khi người bị hại gửi đơn bãi nại, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành xem xét và đưa ra quyết định về việc đình chỉ vụ án hình sự. Điều này có nghĩa là quá trình tố tụng và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can sẽ được tạm ngừng.
– Tác động đến hình phạt: Mặc dù đơn bãi nại không dẫn đến đình chỉ vụ án hình sự, nó có thể được sử dụng làm căn cứ trong quá trình xét xử để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị đơn. Điều này có thể xảy ra trong các trường hợp vụ án không được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại.
Do đó, không phải trong mọi trường hợp khi có đơn bãi nại, bên gây thiệt hại sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Có nhiều yếu tố và quá trình pháp lý khác cần được xem xét để xác định trách nhiệm hình sự của bên gây hại

Khái niệm bãi nại

Bãi nại là thuật ngữ xuất hiện phổ biến trong Bộ luật Hình sự nhưng lại không có quy định cụ thể thế nào là bãi nại. Tuy nhiên có thể hiểu bãi nại là bãi bỏ yêu cầu khiếu nại hoặc khởi tố một vụ án, việc bãi nại do người bị hại (hoặc người đại diện của người bị hại) thực hiện thông qua Đơn bãi nại.
Trong đó, Đơn bãi nại là loại đơn của người bị hại hoặc người dại diện của người bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất… có nội dung về việc rút lại đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Tức, việc người bị hại (người đại diện cua bị hại) có Đơn bãi nại đồng nghĩa với việc không còn tiếp tục yêu cầu khởi tố vụ án nữa.

5/5 - (1 bình chọn)