Quy định chi tiết về đơn bãi nại là gì theo luật hiện hành

80
Quy định chi tiết về đơn bãi nại là gì theo luật hiện hành

Trong một vụ án hình sự mà có người bị hại, thì việc người bị hại bãi nại chính chính là một điều có lợi đối với bị can/bị cáo. Cũng vì lẽ đó, có thể xuất phát từ khá nhiều nguyên nhân khác nhau như: nếu vụ án được điều tra, làm rõ thì có thể sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm hoặc những lợi ích kinh tế của người bị hại hoặc bên người bị hại và bị can/bị cáo tự thương lượng. Xin mời các bạn độc giả cùng tìm hiểu qua bài viết của Tìm luật để hiểu và nắm rõ được những quy định về “Đơn bãi nại là gì” có thể giúp các bạn độc giả hiểu sâu hơn về pháp luật.

Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật Hình sự 2015

Đơn bãi nại là gì?

Đơn bãi nại là loại đơn của người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất… có nội dung về việc rút lại đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Tức, việc người bị hại (người đại diện cua bị hại) có Đơn bãi nại đồng nghĩa với việc không còn tiếp tục yêu cầu khởi tố vụ án nữa.

Quy định của pháp luật liên quan đến đơn bãi nại

Điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định cụ thể về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại:

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Theo đó, việc rút yêu cầu khởi kiện của người có quyền phải hoàn toàn tự nguyện, không có dấu hiệu của ép buộc hay cưỡng bức sẽ dẫn đến việc đình chỉ vụ án ở mọi giai đoạn của quá trình tố tụng của một vụ án hình sự, nghĩa là bên gây thiệt hại (người đang bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc những người có liên quan khác trong vụ án) sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, không phải vụ án nào cũng được đình chỉ khi có đơn bãi nại của người có quyền làm đơn, mà pháp luật chỉ quy định những vụ án được áp dụng đó là 10 tội sau:

– Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134)

– Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135)

– Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hạ sức khỏa của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (điều 136)

– Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ( Điều 138)

– Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139)

– Tội hiếp dâm (Điều 141)

– Tội cưỡng dâm (Điều 143)

– Tội làm nhục người khác (Điều 155)

– Tội vu khống (Điều 156)

-Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226)

Và cũng cần hết sức lưu ý rằng chỉ nếu hành vi phạm tội rơi vào khoản 1 các điều liệt kê ở trên thì mới chỉ được khởi tố theo yêu cầu phía người bị hại, còn nếu hành vi thuộc vào các điều khoản khác (đều có tính chất phạm tội nguy hiểm hơn) thì vụ án vẫn sẽ được khởi tố mà không phụ thuộc vào sự đồng ý hay không đồng ý của người bị hại.

Giá trị pháp lý của đơn bãi nại

Quy định chi tiết về đơn bãi nại là gì theo luật hiện hành

Đơn bãi nại không được quy định trực tiếp trong các quy định của pháp luật hình sự qua các thời kỳ mà được ngầm hiểu là hành vi vụ án của người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại làm đơn rút lại yêu cầu khởi kiện vụ án.

Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự 2015 về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Theo đó, người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại làm đơn rút lại yêu cầu khởi kiện vụ án hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hoặc cưỡng bức. Khi đó, vụ án hình sự sẽ được đình chỉ ở mọi giai đoạn của quá trình tố tụng, nghĩa là bên gây thiệt hại sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, chỉ những tội phạm thuộc khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự 2015 mới được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Còn những tội danh khác dù có đơn bãi nại của người bị hại thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà không phụ thuộc vào sự đồng ý hay không đồng ý của chính người bị hại.

Đơn bãi nại chuẩn quy định hiện nay

Hướng dẫn viết đơn bãi nại chuẩn

(1) Ghi rõ và chính xác tên đối tượng và vụ án hình sự cần xin bãi nại

(2) Phần Kính gửi: Ghi thông tin cơ quan cảnh sát điều tra ,Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân nơi gửi đơn bãi nại

(3) Tôi là…,sinh năm…: Ghi rõ và chính xác họ tên người làm đơn xin bãi nại bằng chữ in hoa có dấu (Ghi theo thông tin trong giấy khai sinh)

(4) Địa chỉ ghi theo nơi ở hiện nay ( ghi rõ tên đường, khu phố, phường/xã/thị trấn, Tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương)

(5) Ghi rõ tên người bị hại trong vụ án hình sự (chính là tên của người thực hiện mẫu đơn xin bãi nại này)

(6), (8), (10) Ghi rõ trên người gây ra hành vi vi phạm với người bị hại

(7) Ghi rõ về tội danh bị truy cứu trách nhiệm hình sự

(9) Trình bày mục đích viết đơn xin bãi nại cho người bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Yêu cầu cần trình bày cụ thể, trung thực lý do bãi nại.

Trách nhiệm hình sự khi có đơn bãi nại

Những trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự khi có đơn bãi nại

Điều 155 BLTTHS 2015 (được sửa đổi bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2021) quy định chỉ những vụ án hình sự về các tội dưới đây thì mới có thể đình chỉ khi người có yêu cầu khởi tố rút yêu cầu của họ:

  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017)
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017)
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136 BLHS)
  • Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 138 BLHS)
  • Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139 BLHS)
  • Tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS)
  • Tội cưỡng dâm (Điều 143 BLHS)
  • Tội làm nhục người khác (Điều 155 BLHS)
  • Tội vu khống (Điều 156 BLHS)

Cụ thể, danh sách những tội danh chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện của họ theo quy định tại Khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015 (được sửa đổi bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2021) và việc rút yêu cầu khởi tố phải là hoàn toàn tự nguyện, không có dấu hiệu của ép buộc hay cưỡng bức dẫn đến việc đình chỉ vụ án ở các giai đoạn của quá trình tố tụng một vụ án hình sự, tức bên gây thiệt hại sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa.

Khi có đơn bãi nại nhưng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Người phạm tội không thuộc các tội danh nêu tại Khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015 (được sửa đổi bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2021) thì đơn bãi nại của người bị hại không có giá trị để đối tượng có hành vi phạm tội tránh được việc bị xử lý hình sự mà trong trường hợp này đơn bãi nại chỉ có thể được xem như một tình tiết giảm nhẹ cho đối tượng phạm tội.

Mời các bạn xem thêm bài viết

Tìm luật đã cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến vấn đề “Đơn bãi nại là gì”. Ngoài ra, chúng tôi có giải đáp vấn đề pháp lý khác như các thông tin pháp lý như tra cứu giấy phép lái xe bằng cccd, các mẫu đơn pháp luật, tư vấn pháp lý khác … Rất hân hạnh được giải đáp cho bạn.

Câu hỏi thường gặp

Có đơn bãi nại tai nạn giao thông chết người thì có bị khởi tố không?

Theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2021 quy định chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật hình sự năm 2015 khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết. Cụ thể gồm những tội phạm sau:
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134);
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135);
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136);
Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 138);
Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139);
Tội hiếp dâm (Điều 141);
Tội cưỡng dâm (Điều 143);
Tội làm nhục người khác (Điều 155);
Tội vu khống (Điều 156).
Theo đó, trường hợp này phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thuộc Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và không thuộc một trong các trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại.
Như vậy, dù có đơn bãi nại thì vẫn bị khởi tố vụ án để tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự.

Bồi thường thiệt hại có được miễn trách nhiệm hình sự không?

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm  2017, để có thể được miễn trách nhiệm hình sự cần thỏa đủ 3 điều kiện sau:
Thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác;
Đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
Được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, pháp luật chỉ quy định có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Do đó, việc hòa giải, bồi thường cho gia đình người bị hại không mặc nhiên người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự (không phải đi tù).
Từ quy định trên, người phạm tội gây tai nạn giao thông chết người quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm  2017 với lỗi vô ý hoặc có thể được xem xét miễn trách nhiệm hình sự (không bị đi tù) nếu đã bồi thường đầy đủ và có đơn bãi nại của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại.

Gây thương tích 21%, đã bồi thường và có đơn bãi nại xử lý thế nào?

Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017 quy định Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác:
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định:
1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
– Như vậy, khi gây thương tích 21% thì rơi vào khoản 1 của Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017, trường hợp này không khởi tố nếu có đơn bãi nại của bị hại.

5/5 - (1 bình chọn)